Bắc Ninh: Hoàn thiện hạ tầng, nâng cao năng lực số, thực hiện mục tiêu chuyển đổi số toàn diện
Với quyết tâm hoàn thành mục tiêu của Nghị quyết số 57-NQ/TW, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, Bắc Ninh đã chủ động xác định mục tiêu, nhiệm vụ ưu tiên, đầu tư nguồn lực, thực hiện chuyển đổi số một cách toàn diện. Song song với việc hoàn thiện hạ tầng, ứng dụng công nghệ số tiên tiến, hiện đại, Bắc Ninh luôn đề cao ý nghĩa, tầm quan trọng của việc phổ cập kiến thức và kỹ năng, nâng cao năng lực số cho mọi tầng lớp nhân dân.

Xây dựng, hoàn thiện hạ tầng, kiến trúc số
Xuất phát từ tầm quan trọng của hạ tầng di động trong chuyển đổi số, tỉnh Bắc Ninh đã khẩn trương đầu tư, triển khai thực hiện và hoàn thành hầu hết những mục tiêu quan trọng đối với việc phát triển hạ tầng thông tin di động và xử lý các điểm lõm sóng trên địa bàn tỉnh.
Năm 2025, tỉnh Bắc Ninh đưa vào phát sóng 849 trạm BTS 5G, trong đó Viettel Bắc Ninh triển khai 765 trạm, VNPT Bắc Ninh 64 trạm và MobiFone Bắc Ninh 20 trạm, vùng phủ mạng 5G đạt trên 92,12% dân số toàn tỉnh.
Với số lượng hiện có, Bắc Ninh nằm trong nhóm tỉnh, thành phố có các trạm BTS 5G nhiều nhất trong cả nước. Cùng với việc phát triển mạng 5G, mạng 4G tiếp tục được duy trì và nâng cấp với tỷ lệ phủ sóng đạt trên 99% dân số toàn tỉnh, bảo đảm thông tin liên lạc ổn định, liên tục, nhất là tại các khu vực chưa đủ điều kiện triển khai mạng 5G.
Việc phủ sóng mạng 4G và 5G với tỷ lệ cao đã góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ viễn thông, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu phát triển kinh tế số, xã hội số và triển khai các ứng dụng công nghệ số trên địa bàn tỉnh.
Đồng chí Nguyễn Gia Phong - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Ninh - cho biết: “Bắc Ninh đang tiếp tục đẩy mạnh đầu tư, mở rộng hạ tầng mạng 5G phấn đấu hoàn thành mục tiêu phủ sóng mạng 5G đến 100% dân số toàn tỉnh”.
Song song với việc phủ sóng, tỉnh còn chỉ đạo các cơ quan chuyên môn phối hợp với các doanh nghiệp viễn thông tiến hành rà soát và đo kiểm các khu vực sóng yếu, lõm sóng, đặc biệt tập trung đánh giá kỹ những khu vực được cử tri và các địa phương của tỉnh phản ánh.
Trên cơ sở kết quả đánh giá, kiểm tra, rà soát, các cơ quan chuyên môn của tỉnh xây dựng và triển khai kế hoạch khắc phục tình trạng sóng yếu, lõm sóng theo lộ trình nhanh nhất.
Đối với việc bảo đảm hạ tầng Trung tâm Tích hợp dữ liệu và trang thiết bị phục vụ cho chuyển đổi số của các cơ quan, địa phương, tỉnh Bắc Ninh đã ban hành Quyết định số 59/2025/QĐ-UBND, ngày 3-11-2025, “Ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và đảm bảo an toàn thông tin đối với Trung tâm Tích hợp dữ liệu tỉnh Bắc Ninh”.
Do việc tích cực đầu tư, hiện đại hóa nên điều kiện kỹ thuật của Trung tâm hiện nay hoàn toàn đáp ứng yêu cầu phục vụ chuyển đổi số theo hướng sử dụng công nghệ điện toán đám mây.
Cấu trúc của Trung tâm Tích hợp dữ liệu có đủ các phân hệ như: hệ thống máy chủ, hệ thống phần mềm, hệ thống lưu trữ,... cùng với hệ thống cơ sở dữ liệu tạo nền tảng liên kết, tích hợp các ứng dụng dùng chung để phục vụ việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp, cũng như phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Hiện nay, Trung tâm Tích hợp dữ liệu hoạt động hiệu quả, bảo đảm thông suốt các hệ thống dùng chung, phần mềm chuyên ngành phục vụ hoạt động nghiệp vụ của các cơ quan chuyên môn và công tác chỉ đạo, điều hành của các cấp.
Hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến vận hành ổn định, bảo đảm các điều kiện kỹ thuật, phục vụ việc tổ chức thông suốt các cuộc họp trực tuyến từ Trung ương đến địa phương và từ tỉnh đến xã.
Với Mạng truyền số liệu chuyên dùng, tỉnh Bắc Ninh duy trì 459 đường truyền số liệu chuyên dùng cho các cơ quan Đảng, Nhà nước thông suốt từ tỉnh đến xã và triển khai 155 kênh thuộc Mạng truyền số liệu chuyên dùng bảo mật liên thông các cơ quan trong hệ thống chính trị, cũng như sẵn sàng triển khai các dịch vụ xử lý thông tin có chứa nội dung bí mật nhà nước trong toàn hệ thống chính trị.
Song song với đó, để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người nhân, doanh nghiệp, tỉnh còn duy trì các đường truyền Internet tốc độ cao trên nền tảng giao thức IPv6/IPv4.
Những kết quả, thành tích mà Bắc Ninh đạt được trong lĩnh vực chuyển đổi số trước hết bắt nguồn từ việc Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Ninh khẩn trương tiến hành nghiên cứu, lĩnh hội tinh thần, quan điểm chỉ đạo của Trung ương, đồng thời ban hành Kế hoạch số 07/KH-TU nhằm cụ thể hóa nội dung của Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Để bảo đảm kinh phí và nguồn lực thực hiện các mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Bắc Ninh đã cân đối ngân sách, kịp thời bố trí, bổ sung 237 tỷ đồng đầu tư, mua sắm trang thiết bị công nghệ thông tin cho các đơn vị cấp xã.
Đồng chí Lương Văn Nghiệp - Phó Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh - cho biết: “năm 2026, tỉnh bố trí tổng kinh phí là 866 tỷ đồng cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trong đó phân bổ 204 tỷ đồng cho cấp xã để các đơn vị chủ động thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao”.
Trang bị kiến thức, kỹ năng, nâng cao năng lực số
Nhằm thực hiện mục tiêu chuyển đổi số đồng bộ, toàn diện, song song với việc phát triển hạ tầng số, dữ liệu số, tạo sự thuận lợi cho người dân trong tiếp cận các dịch vụ số..., Bắc Ninh xác định phổ cập kiến thức, kỹ năng, nâng cao năng lực số cho nhân dân là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Đây là yếu tố giữ vai trò quyết định đối với sự thành công của công cuộc chuyển đổi số của địa phương.
Với mục tiêu trang bị những kiến thức cơ bản, cần thiết về số cho mọi tầng lớp nhân dân, “Bình dân học vụ số” là giải pháp quan trọng nhất để nâng cao năng lực số cho mọi tầng lớp nhân dân, khắc phục những hạn chế trong việc tiếp cận số. Đây là "chìa khóa" giúp người dân mở ra cánh cửa bước vào thế giới số văn minh, hiện đại, thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng, miền, khu vực địa lý.
Đồng chí Lê Xuân Giang - Phó Trưởng phòng Tuyên truyền, Báo chí và Xuất bản, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bắc Ninh - cho biết: “để phong trào “Bình dân học vụ số” đạt hiệu quả cao nhất, Bắc Ninh đã tiến hành phân nhóm dân cư theo đặc điểm công việc, nghề nghiệp, trình độ học vấn, khu vực địa lý... Trên cơ sở đó, các cơ quan chuyên môn xác định nội dung, phương pháp và hình thức phổ cập kiến thức, kỹ năng số phù hợp với đặc điểm của từng nhóm đối tượng”.
Đối với cán bộ, công chức, viên chức, song song với việc đào tạo, tổ chức các lớp bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng số đáp ứng mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, các cơ quan, đơn vị của tỉnh còn khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức chủ động tự học, tự đào tạo về chuyển đổi số gắn với công việc và nhiệm vụ chuyên môn của mỗi cá nhân.
Đối với học sinh, sinh viên, Sở Giáo dục và Đào tạo tiến hành phổ cập kiến thức về chuyển đổi số cho học sinh từ cấp tiểu học trở lên thông qua quá trình dạy học và những hoạt động trong môi trường giáo dục.
Với người lao động trong các doanh nghiệp, hợp tác xã, chính quyền địa phương chỉ đạo các đơn vị tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số, hướng dẫn người lao động về cách sử dụng các công cụ và phần mềm quản lý sản xuất, vận hành máy móc tự động hóa, tiếp cận, sử dụng các công cụ thương mại, thanh toán điện tử...
Đối với nhân dân, công tác tuyên truyền, phổ cập kỹ năng số được các cơ quan, bộ phận chức năng thực hiện đa dạng, linh hoạt thông qua các hình thức trực quan như: sinh hoạt cộng đồng, băng rôn, pa-nô, áp-phích...
Mô hình “cầm tay chỉ việc” của các “Tổ công nghệ số cộng đồng” tại nhiều xã, phường đã phát huy hiệu quả, trực tiếp hướng dẫn người dân thao tác, cài đặt, sử dụng các ứng dụng số, nộp hồ sơ trực tuyến, tra cứu kết quả giải quyết thủ tục hành chính, thanh toán không dùng tiền mặt...
Để phát huy tác dụng và nâng cao hiệu quả của phong trào “Bình dân học vụ số”, các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội của tỉnh Bắc Ninh đã triển khai nhiều mô hình khác nhau như: “Đảng viên số đi trước”, “Tiếng loa chuyển đổi số”, “Trung úy AI”, “Chợ 4.0 - Thanh toán không tiền mặt”, “Bệnh viện số - Trạm y tế số”, “Hòm thư góp ý điện tử”, “Nông dân - Cựu chiến binh ứng dụng công nghệ số”…
Các mô hình đều tập trung trang bị, nâng cao kiến thức, giúp người dân có đủ kỹ năng số để thực hiện thủ tục hành chính trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia, cài đặt và sử dụng các ứng dụng quan trọng, thiết yếu với đời sống như: VNeID, VssID, eTax Mobile, Sổ sức khỏe điện tử, triển khai rộng rãi chương trình “Bình dân học vụ số” - nền tảng học trực tuyến mở đại trà quốc gia (MOOCs).
Từ việc đầu tư, đẩy mạnh phát triển hạ tầng, kiến trúc số, gắn với mục tiêu phát triển xã hội số một cách toàn diện, chuyển đổi số ở Bắc Ninh đã đạt được những thành tích quan trọng, nổi bật trong việc xây dựng, phát triển xã hội số.
Tỉnh xếp thứ 9 toàn quốc về tích hợp sổ sức khỏe điện tử trên ứng dụng VneID. Việc xây dựng bệnh án điện tử hoàn thành tại 100% số bệnh viện công lập. Hệ thống học bạ số và học trực tuyến đã hoàn thành 100% tại tất cả các cơ sở giáo dục.
Bắc Ninh là 1 trong 6 địa phương đầu tiên triển khai tích hợp, liên thông Cơ sở dữ liệu đất đai và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đồng thời nằm trong tốp đầu của Chiến dịch làm sạch, làm giàu dữ liệu đất đai.
Trong lĩnh vực an sinh xã hội, việc chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội qua tài khoản ngân hàng trên địa bàn tỉnh đạt trên 95%, vượt 36% chỉ tiêu được giao. Việc tích hợp thẻ bảo hiểm y tế trên VneID của người dân trong tỉnh đạt 47,87%, đứng thứ 8 toàn quốc...
Những kết quả, thành tích nổi bật trên đây là minh chứng thuyết phục cho quyết tâm chính trị, phương pháp làm việc khoa học và những cố gắng, nỗ lực vượt bậc của tỉnh Bắc Ninh trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Từ chủ trương, định hướng của Trung ương, Bắc Ninh đã từng bước cụ thể hóa chuyển đổi số bằng những kết quả, giá trị thiết thực, hiện hữu trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Hạ tầng số được đầu tư đồng bộ, xã hội số từng bước được hình thành, người dân ngày càng chủ động tiếp cận và thụ hưởng các tiện ích số.
Đây là nền tảng quan trọng để Bắc Ninh tiếp tục phát huy lợi thế, xây dựng, phát triển trở thành một thành phố số, sáng tạo, văn minh, hiện đại, từng bước khẳng định vai trò là cực tăng trưởng quan trọng của Vùng Thủ đô./.

