Kinh tế và Hội nhập

Kinh tế số - động lực tăng trưởng quan trọng của Bắc Ninh

Thanh Hải 25/08/2026 09:15

Bắc Ninh đang đứng trước một bước ngoặt phát triển có ý nghĩa chiến lược. Từ một địa phương có nền tảng nông nghiệp, Bắc Ninh đã vươn lên trở thành một trong những trung tâm công nghiệp, điện tử và xuất khẩu lớn của cả nước. Trong không gian phát triển mới, khi tỉnh đang hoàn thiện các điều kiện để trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng quy mô kinh tế, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất, sức cạnh tranh và khả năng làm chủ những nguồn lực mới của phát triển.

bac-ninh-1.jpg
Đại biểu trải nghiệm một dự án ứng dụng chuyển đổi số tại Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Công an tỉnh Bắc Ninh lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2025 - 2030_Ảnh: TTXVN

Từ nền tảng công nghiệp đến động lực kinh tế số

Xuất phát điểm là tỉnh thuần nông, Bắc Ninh đã hình thành một nền công nghiệp có mức độ hội nhập quốc tế cao, nhất là trong các lĩnh vực điện tử, sản xuất thiết bị và công nghiệp hỗ trợ.

Những kết quả này tạo nền tảng để kinh tế số phát triển nhanh, bởi chuyển đổi số trong doanh nghiệp, sản xuất thông minh, thương mại điện tử, dịch vụ số và quản trị dựa trên dữ liệu đang từng bước gắn kết với hoạt động kinh tế truyền thống.

Đây là thời điểm kinh tế số cần được nhìn nhận không đơn thuần như một ngành kinh tế mới hay một quá trình ứng dụng công nghệ thông tin, mà là phương thức tổ chức lại các nguồn lực, phương thức sản xuất, quản trị và cung ứng dịch vụ, qua đó tạo động lực mới cho tăng trưởng.

Với một địa phương có độ mở kinh tế lớn, nền công nghiệp điện tử phát triển và sự hiện diện của nhiều tập đoàn công nghệ toàn cầu như Bắc Ninh, chuyển đổi số càng phải gắn chặt với mục tiêu nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị, phát triển doanh nghiệp trong nước và từng bước làm chủ công nghệ.

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu có nhiều biến động, 6 tháng đầu năm 2026, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của Bắc Ninh vẫn xuất sắc tăng 10,56%, đứng thứ 6 cả nước và lọt vào nhóm 9 địa phương tăng trưởng 2 con số.

Quy mô nền kinh tế ước đạt hơn 273.410 tỷ đồng, củng cố vị thế vững chắc của tỉnh trên bản đồ kinh tế quốc gia; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 19,51%; giá trị sản xuất công nghiệp đạt khoảng 1,6 triệu tỷ đồng; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 106,4 tỷ USD (xuất khẩu đạt 52,5 tỷ USD), tăng 31,49% so với cùng kỳ.

Tỉnh chủ động đón đầu dòng vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) thế hệ mới, dịch chuyển mạnh mẽ từ gia công lắp ráp thâm dụng lao động sang các lĩnh vực công nghệ cao, bán dẫn và từng bước làm chủ kinh tế số (thu hút vốn FDI đứng thứ 4 toàn quốc). Bắc Ninh duy trì vị thế trong nhóm 5 tỉnh, thành phố có chất lượng điều hành kinh tế tốt nhất cả nước.

Những con số cho thấy sức bật của khu vực sản xuất và xuất khẩu, đồng thời phản ánh vai trò ngày càng lớn của Bắc Ninh trong mạng lưới sản xuất và cung ứng toàn cầu.

Trong cơ cấu đó, công nghệ số không còn đứng ngoài dây chuyền sản xuất, mà ngày càng thâm nhập vào thiết kế, quản trị, điều hành, kiểm soát chất lượng và logistics.

Khi robot, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây, dữ liệu lớn và các nền tảng quản trị số ngày càng đi sâu vào nhà máy, công nghệ số không còn là một công cụ hỗ trợ đơn thuần. Nó trở thành bộ phận cấu thành của năng lực sản xuất.

Từ thiết kế sản phẩm, lập kế hoạch, quản trị chuỗi cung ứng, kiểm soát chất lượng đến logistics và chăm sóc khách hàng, dữ liệu và công nghệ số đang làm thay đổi phương thức vận hành của doanh nghiệp.

Đặc biệt, với Bắc Ninh, sự hiện diện của các tập đoàn công nghệ và điện tử toàn cầu tạo ra một thị trường lớn cho quá trình số hóa. Khi các doanh nghiệp đầu chuỗi nâng cao tiêu chuẩn công nghệ, quản trị và truy xuất dữ liệu, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước cũng buộc phải đổi mới.

Đây là cơ chế lan tỏa rất quan trọng, bởi nếu được tổ chức tốt, chuyển đổi số không chỉ làm tăng năng suất của từng doanh nghiệp, mà còn nâng chất lượng của cả hệ sinh thái sản xuất.

Từ góc độ phát triển dài hạn, đây chính là giá trị quan trọng của kinh tế số đối với một địa phương có độ mở kinh tế lớn như Bắc Ninh. Thu hút FDI không nên chỉ được nhìn nhận ở quy mô vốn đăng ký, mà cần được đánh giá cả ở khả năng tạo ra lan tỏa công nghệ, hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp trong nước và nâng cao vị trí của địa phương trong chuỗi giá trị.

Bắc Ninh có điều kiện thuận lợi để theo đuổi cách tiếp cận này nhờ nền tảng công nghiệp điện tử, hệ thống khu công nghiệp và sự hiện diện của nhiều doanh nghiệp công nghệ lớn.

bac-ninh-2.jpg
Một buổi học về trí tuệ nhân tạo của Chương trình Samsung Innovation Campus tại Trường Cao đẳng Công nghệ Việt - Hàn Bắc Giang, tỉnh Bắc Ninh_Ảnh: TTXVN

Hạ tầng số phải đi trước một bước

Kinh tế số cũng đang mở rộng từ khu vực sản xuất sang quản trị đô thị và cung ứng dịch vụ công. Quan điểm xuyên suốt của Đảng bộ, chính quyền tỉnh Bắc Ninh là phát triển kinh tế phải đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, lấy con người làm trung tâm.

Chiến dịch “Trở thành công dân số” được phát động rộng rãi, từ việc thanh toán không dùng tiền mặt, sử dụng dịch vụ công trực tuyến đến việc tiếp cận các nền tảng y tế, giáo dục số, người dân Bắc Ninh đang từng bước làm chủ công nghệ.

Một điểm đáng chú ý trong quá trình chuyển đổi số của Bắc Ninh là việc đưa mô hình “AI-First” (ưu tiên trí tuệ nhân tạo) vào hoạt động công vụ. Hệ thống trợ lý ảo AI hỗ trợ cán bộ, công chức đã xử lý hơn 13.000 lượt tương tác, tỷ lệ phản hồi dưới 10 giây đạt 99%, mức độ hài lòng của người dùng khoảng 90%. Hệ thống camera giám sát tích hợp AI cũng đang được sử dụng để hỗ trợ bảo đảm an ninh, trật tự.

Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của tỉnh đã được số hóa toàn trình, kết nối đồng bộ với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, qua đó tạo điều kiện để người dân và doanh nghiệp thực hiện thủ tục trên môi trường mạng.

Nếu được vận hành đồng bộ, đây không chỉ là câu chuyện ứng dụng công nghệ, mà còn là một bước cải cách phương thức quản trị: giảm thời gian và chi phí giao dịch, tăng tính công khai, minh bạch và nâng cao trách nhiệm của cơ quan công quyền.

Một phương diện khác không thể tách rời là phát triển xã hội số. Chuyển đổi số chỉ có ý nghĩa khi người dân có khả năng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ số một cách thuận tiện, an toàn.

Thanh toán không dùng tiền mặt, dịch vụ công trực tuyến, thương mại điện tử, y tế và giáo dục trên nền tảng số đang tạo ra những thay đổi trong đời sống.

Bắc Ninh cần tiếp tục thu hẹp khoảng cách số giữa các nhóm dân cư, giữa khu vực đô thị và nông thôn; đồng thời chú trọng kỹ năng số, bảo vệ dữ liệu cá nhân và nâng cao nhận thức về an toàn trên không gian mạng.

Giai đoạn 2026 - 2030, Bắc Ninh đã xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược. Chương trình của Tỉnh ủy và các kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh nhấn mạnh thúc đẩy chuyển đổi số trong doanh nghiệp, phát triển hạ tầng số, công nghiệp bán dẫn, dữ liệu và chính quyền số.

Tháng 6-2026, Bộ Chính trị thống nhất chủ trương thành lập thành phố Bắc Ninh trực thuộc Trung ương trên cơ sở địa giới hành chính tỉnh Bắc Ninh. Ngày 1-8-2026, Chính phủ thông qua hồ sơ Đề án tại Nghị quyết số 205/NQ-CP, “Về hồ sơ Đề án thành lập thành phố Bắc Ninh trực thuộc Trung ương”. Đây là không gian phát triển mới, đồng thời cũng là yêu cầu mới đối với mô hình tăng trưởng.
Theo định hướng của Bộ Chính trị, thành phố Bắc Ninh tương lai phải phát triển xanh, thông minh, hiện đại; lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực tăng trưởng chủ yếu; phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp bán dẫn, sản xuất vi mạch và trí tuệ nhân tạo. Trong không gian đó, kinh tế số có thể trở thành “mạch kết nối” giữa công nghiệp, đô thị, logistics, thương mại, dịch vụ công và đời sống xã hội.

Chiều 24-8, Quốc hội biểu quyết thông qua nghị quyết thành lập thành phố Bắc Ninh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số của tỉnh hiện nay. Thành phố Bắc Ninh có diện tích 4.713 km2, dân số 3,99 triệu, gồm 45 phường và 54 xã. Thành phố giáp Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hưng Yên, Lạng Sơn và Thái Nguyên.

Biến lợi thế thành năng lực, biến dữ liệu thành giá trị

Lợi thế công nghiệp, FDI, hạ tầng và vị trí địa - kinh tế đã tạo cho Bắc Ninh một điểm xuất phát rất thuận lợi. Song, lợi thế chỉ trở thành sức mạnh dài hạn khi được chuyển hóa thành năng lực nội sinh.

Thứ nhất, Bắc Ninh cần tiếp tục hoàn thiện môi trường thể chế cho đổi mới sáng tạo và các mô hình kinh doanh mới, trong phạm vi pháp luật cho phép.

Những cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ mới có thể tạo không gian cho doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo thử nghiệm giải pháp, đánh giá tác động và hoàn thiện mô hình trước khi nhân rộng. Cùng với đó là xây dựng cơ chế phối hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp và các tổ chức khoa học, công nghệ.

Thứ hai, nguồn nhân lực phải được đặt ở vị trí trung tâm. Lợi thế về công nghiệp điện tử chỉ có thể chuyển hóa thành lợi thế về kinh tế số nếu Bắc Ninh có đội ngũ kỹ sư, chuyên gia dữ liệu, tự động hóa, bán dẫn, an toàn thông tin và quản trị công nghệ đủ mạnh.

Vì vậy, cần tăng cường liên kết giữa chính quyền, doanh nghiệp và cơ sở giáo dục; gắn đào tạo với nhu cầu thực tế của chuỗi sản xuất; đồng thời có chính sách thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao. Mục tiêu không chỉ là có nhiều lao động sử dụng công nghệ, mà phải hình thành năng lực thiết kế, tích hợp, vận hành và từng bước làm chủ công nghệ.

Thứ ba, phải coi an toàn, an ninh mạng và chủ quyền dữ liệu là điều kiện nền tảng của kinh tế số. Khi hoạt động sản xuất, thương mại, quản trị và dịch vụ phụ thuộc ngày càng nhiều vào dữ liệu, nguy cơ gián đoạn hệ thống, rò rỉ dữ liệu và tấn công mạng cũng gia tăng.

Bắc Ninh, với quy mô công nghiệp điện tử lớn và mức độ hội nhập sâu, càng cần xây dựng năng lực bảo vệ hệ thống thông tin, phân loại và quản trị dữ liệu, nâng cao khả năng ứng phó sự cố, đồng thời tuân thủ nghiêm các quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu và an toàn thông tin mạng.

Thứ tư, cần thúc đẩy mạnh hơn sự tham gia của doanh nghiệp trong nước vào hệ sinh thái số và chuỗi cung ứng. Một nền kinh tế số bền vững không thể chỉ dựa vào các tập đoàn lớn hoặc khu vực FDI.

Bắc Ninh cần tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận nền tảng số, tín dụng, tư vấn công nghệ và các chương trình nâng cao năng lực quản trị.

Khi doanh nghiệp nội địa có khả năng cung ứng sản phẩm, dịch vụ và giải pháp số cho các doanh nghiệp lớn, giá trị gia tăng được giữ lại nhiều hơn trong nền kinh tế địa phương, đồng thời tạo ra sức chống chịu tốt hơn trước biến động bên ngoài.

Thứ năm, cần nhìn kinh tế số trong mối quan hệ hữu cơ với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững. Số hóa không phải là mục tiêu tự thân. Giá trị của chuyển đổi số phải được đo bằng năng suất cao hơn, chi phí thấp hơn, dịch vụ công tốt hơn, môi trường kinh doanh minh bạch hơn và chất lượng cuộc sống của người dân được nâng lên.

Đối với Bắc Ninh, yêu cầu này càng có ý nghĩa khi địa phương bước vào không gian phát triển mới với quy mô lớn hơn, chức năng đô thị cao hơn và vai trò liên kết vùng rõ hơn.

bac-ninh-3.jpg
Hướng dẫn người dân phường Tam Sơn, tỉnh Bắc Ninh thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử_Ảnh: TTXVN

Từ một địa phương có nền tảng công nghiệp phát triển, Bắc Ninh đang đứng trước cơ hội hình thành một mô hình tăng trưởng dựa trên sự kết hợp giữa công nghiệp công nghệ cao, kinh tế số, đổi mới sáng tạo và quản trị hiện đại.

Kết quả đạt được thời gian qua là tiền đề quan trọng, nhưng chưa phải đích đến. Thách thức lớn hơn là biến lợi thế về sản xuất thành năng lực sáng tạo, biến dữ liệu thành nguồn lực phát triển và biến ứng dụng công nghệ thành năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh.

Nếu kiên trì hướng đi này, kinh tế số sẽ không chỉ là một lĩnh vực tăng trưởng mới, mà trở thành một phương thức tổ chức lại các nguồn lực, mở rộng không gian phát triển và góp phần xây dựng Bắc Ninh trở thành một cực tăng trưởng năng động, hiện đại trong giai đoạn mới./.

Thanh Hải