Chính trị - Thời sự

Viết tiếp chương hợp tác mới trong quan hệ Việt Nam - New Zealand

Hà Anh 12/08/2026 11:16

Cách xa nhau về địa lý nhưng có nhiều điểm tương đồng về lợi ích, cùng coi trọng hòa bình, hợp tác, phát triển bền vững và luật pháp quốc tế, Việt Nam và New Zealand đã từng bước xây dựng một mối quan hệ hữu nghị, tin cậy và ngày càng thực chất.

tong-bi-thu.jpg
Chiều 26-2-2025, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp Thủ tướng New Zealand Christopher Luxon - Chủ tịch Đảng Quốc gia New Zealand thăm chính thức Việt Nam và dự Diễn đàn Tương lai ASEAN lần thứ hai_Ảnh: Thống Nhất/TTXVN

Từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 19-6-1975, 2 nước đã trải qua hành trình hơn nửa thế kỷ với nhiều dấu mốc quan trọng, từ quan hệ Đối tác toàn diện năm 2009, Đối tác chiến lược năm 2020 đến Đối tác chiến lược toàn diện năm 2025.

Trong bối cảnh đó, chuyến thăm cấp Nhà nước tới New Zealand của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từ ngày 12 - 14-8-2026, theo lời mời của Toàn quyền New Zealand Cindy Kiro, có ý nghĩa đặc biệt.

Đây là lần đầu tiên một Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Việt Nam thăm cấp Nhà nước tới New Zealand, diễn ra sau khi quan hệ 2 nước được nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện; đồng thời, là dịp để hai bên xác định những định hướng lớn, tạo động lực mới và viết tiếp chương hợp tác sâu sắc hơn trong quan hệ song phương.

Trên cơ sở Đối tác chiến lược toàn diện, chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tạo thêm động lực chuyển hóa tin cậy chính trị thành những kết quả hợp tác thực chất, mở rộng không gian hợp tác và viết tiếp một chương mới của quan hệ 2 nước, vì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững ở khu vực.

Những kết quả đạt được trong quan hệ 2 nước thời gian qua

Quan hệ Việt Nam - New Zealand được xây dựng trên nền tảng tin cậy chính trị ngày càng được củng cố. Ngay sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1975, 2 nước từng bước duy trì các kênh tiếp xúc, tăng cường hiểu biết lẫn nhau và mở rộng hợp tác.

Cùng với công cuộc đổi mới và quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, quan hệ song phương có bước phát triển rõ nét, nhất là từ thập niên 90 của thế kỷ XX.

Năm 2005, 2 Thủ tướng ký Tuyên bố về hợp tác giữa Việt Nam và New Zealand, tạo cơ sở chính trị quan trọng để 2 nước hướng tới xây dựng quan hệ đối tác lâu dài.

Đến tháng 9-2009, 2 nước chính thức thiết lập Quan hệ Đối tác toàn diện. Đây là bước chuyển quan trọng, tạo xung lực mở rộng hợp tác trên nhiều lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế, thương mại đến giáo dục, nông nghiệp, quốc phòng, an ninh và giao lưu nhân dân.

Tháng 7-2020, quan hệ được nâng cấp lên Đối tác chiến lược, phản ánh mức độ tin cậy chính trị ngày càng cao và nhận thức chung về nhu cầu mở rộng hợp tác sang những lĩnh vực mới như ứng phó biến đổi khí hậu, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.

Đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch COVID-19, 2 nước vẫn duy trì trao đổi, phối hợp hỗ trợ lẫn nhau, góp phần bảo đảm chuỗi cung ứng và phục hồi kinh tế.

Những năm gần đây, trao đổi cấp cao giữa 2 nước diễn ra sôi động. Chuyến thăm chính thức New Zealand của Thủ tướng Phạm Minh Chính tháng 3-2024, các cuộc gặp giữa lãnh đạo 2 nước bên lề các hội nghị quốc tế, chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Christopher Luxon tháng 2-2025 và các hoạt động trao đổi đoàn cấp cao sau đó đã tạo thêm động lực cho quan hệ song phương.

Đặc biệt, ngày 26-2-2025, trong chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Christopher Luxon, hai bên chính thức nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện.

Đây là dấu mốc có ý nghĩa lịch sử, đưa quan hệ 2 nước lên cấp độ cao nhất từ trước đến nay và tạo khuôn khổ mới để thúc đẩy hợp tác toàn diện, sâu rộng hơn.

Việc hai bên triển khai Chương trình hành động thực hiện Đối tác chiến lược toàn diện giai đoạn 2025 - 2030 cho thấy quyết tâm chuyển hóa những cam kết chính trị thành các chương trình hợp tác cụ thể.

Trên lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư, quan hệ 2 nước có nhiều dư địa phát triển nhờ tính bổ trợ cao của 2 nền kinh tế. Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn thứ 12 của New Zealand. Kim ngạch thương mại hai chiều năm 2025 đạt 1,5 tỷ USD, tăng 15,8% so với năm 2024; trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt 844,4 triệu USD, tăng 14,6%. Hai bên đang hướng tới mục tiêu đưa kim ngạch thương mại lên 3 tỷ USD vào năm 2026.

Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu giữa 2 nước nhìn chung mang tính bổ sung, ít cạnh tranh trực tiếp. Việt Nam xuất khẩu sang New Zealand các sản phẩm điện tử, máy vi tính, điện thoại và linh kiện, thủy sản, hạt điều, giày dép; trong khi nhập khẩu từ New Zealand sữa và sản phẩm từ sữa, hoa quả, gỗ, nguyên liệu phục vụ sản xuất cùng một số máy móc, thiết bị.

Đây là cơ sở thuận lợi để hai bên tiếp tục đa dạng hóa thị trường, khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do cùng tham gia như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) và Hiệp định Thương mại Tự do giữa ASEAN, Australia và New Zealand (AANZFTA).

Về đầu tư, tính đến ngày 30-6-2026, New Zealand có 61 dự án còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký 191 triệu USD; Việt Nam có 13 dự án đầu tư tại New Zealand với tổng vốn 44,5 triệu USD.

Những con số này cho thấy, hợp tác đầu tư đã có bước phát triển nhưng vẫn còn dư địa rất lớn, nhất là trong những lĩnh vực phù hợp với định hướng phát triển mới như công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, kinh tế xanh, năng lượng tái tạo và chuyển đổi số.

Một điểm nổi bật khác là hợp tác phát triển. New Zealand là một trong những đối tác cung cấp ODA (hỗ trợ phát triển chính thức) quan trọng cho Việt Nam, tập trung vào chuyển giao tri thức, đào tạo nâng cao năng lực, phát triển nông nghiệp, hạ tầng giao thông và quản lý thiên tai.

Nguồn hỗ trợ này có ý nghĩa thiết thực, không chỉ bổ sung nguồn lực phát triển, mà còn góp phần nâng cao năng lực thể chế và nguồn nhân lực của Việt Nam.

Giáo dục, đào tạo và giao lưu nhân dân tiếp tục là một trong những cầu nối quan trọng nhất giữa 2 nước. Khoảng 2.000 sinh viên Việt Nam đang học tập tại New Zealand, đưa Việt Nam trở thành một trong những nguồn sinh viên quốc tế quan trọng của nước này.

Các chương trình học bổng, đào tạo tiếng Anh cho cán bộ Việt Nam và hợp tác giữa các cơ sở giáo dục 2 nước đã góp phần hình thành mạng lưới nhân lực có hiểu biết sâu sắc về 2 quốc gia.

Đáng chú ý, hợp tác giáo dục ngày càng chuyển từ hỗ trợ đơn thuần sang hợp tác phát triển nguồn nhân lực, đổi mới giáo dục, đào tạo nghề, ứng dụng công nghệ số và liên kết giữa các cơ sở đào tạo.

Cùng với đó, hợp tác quốc phòng, an ninh, nông nghiệp, giao thông - vận tải, khoa học - công nghệ, ứng phó biến đổi khí hậu và các lĩnh vực mới tiếp tục được mở rộng.

Hai nước duy trì nhiều cơ chế hợp tác như Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao, Tham khảo Chính trị cấp Thứ trưởng Ngoại giao, Đối thoại Biển, Ủy ban hỗn hợp về kinh tế và thương mại, Đối thoại cấp cao về nông nghiệp, Đối thoại Chính sách quốc phòng và tham vấn quốc phòng. Các cơ chế này tạo nền tảng để duy trì tính liên tục của quan hệ và xử lý hiệu quả các vấn đề hợp tác cụ thể.

Ở cấp độ đa phương, Việt Nam và New Zealand có nhiều lợi ích và quan điểm tương đồng trong việc đề cao chủ nghĩa đa phương, luật pháp quốc tế, tự do thương mại và vai trò trung tâm của ASEAN.

Hai nước phối hợp tại Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các khuôn khổ thương mại khu vực. New Zealand coi Đông Nam Á là một ưu tiên trong chính sách khu vực và đánh giá Việt Nam là đối tác quan trọng.

quan-he-viet-new.jpg
Lễ kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - New Zealand (1975 - 2025) tại Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11-2025_Ảnh: TTXVN

Ý nghĩa chuyến thăm New Zealand của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

Trong tiến trình đó, chuyến thăm cấp Nhà nước tới New Zealand của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mang ý nghĩa đặc biệt, trước hết bởi đây là chuyến thăm đầu tiên của một Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Việt Nam tới New Zealand và là chuyến thăm đầu tiên của lãnh đạo cấp cao nhất của Việt Nam kể từ khi 2 nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện.

Vì vậy, chuyến thăm là biểu tượng rõ nét cho mức độ coi trọng ngày càng cao của Việt Nam đối với New Zealand, đồng thời khẳng định vị trí của New Zealand trong chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với khu vực Nam Thái Bình Dương.

Chuyến thăm cũng cho thấy, quan hệ Việt Nam - New Zealand đang được đặt trong tầm nhìn chiến lược dài hạn, phù hợp với vị thế và lợi ích ngày càng gia tăng của 2 nước tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.

Quan trọng hơn, chuyến thăm diễn ra vào thời điểm 2 nước đang chuyển từ “nâng cấp khuôn khổ” sang “hiện thực hóa khuôn khổ”. Sau quyết định thiết lập Đối tác chiến lược toàn diện năm 2025, nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là cụ thể hóa những cam kết chính trị thành các chương trình hợp tác có mục tiêu, lộ trình và nguồn lực rõ ràng.

Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tạo điều kiện để lãnh đạo 2 nước trực tiếp trao đổi về những định hướng lớn, xác định các lĩnh vực ưu tiên và tạo động lực chính trị cho việc triển khai Chương trình hành động giai đoạn 2025 - 2030.

Trên phương diện kinh tế, chuyến thăm có thể góp phần mở ra những hướng đi mới nhằm khai thác tốt hơn tiềm năng bổ trợ giữa 2 nền kinh tế. Mục tiêu đưa kim ngạch thương mại lên 3 tỷ USD đòi hỏi gia tăng quy mô trao đổi, đặc biệt phải tháo gỡ các rào cản kỹ thuật, đa dạng hóa mặt hàng, tăng cường kết nối doanh nghiệp và tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do.

Đồng thời, hai bên có thể mở rộng hợp tác đầu tư trong những lĩnh vực có triển vọng như nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ số, kinh tế xanh, năng lượng sạch và đổi mới sáng tạo.

Một hướng hợp tác có ý nghĩa lâu dài là khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và ứng phó biến đổi khí hậu. Đây là những lĩnh vực phù hợp với nhu cầu phát triển của Việt Nam và thế mạnh của New Zealand, đồng thời đáp ứng những yêu cầu chung của khu vực.

Tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực này có thể giúp quan hệ song phương chuyển từ mô hình hợp tác truyền thống sang mô hình hợp tác dựa nhiều hơn vào tri thức, công nghệ và sáng tạo.

Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực cũng được kỳ vọng tiếp tục là một trụ cột quan trọng. Những nền tảng hợp tác đã được xây dựng giữa các trường đại học, cơ sở đào tạo và cơ quan nghiên cứu 2 nước mở ra khả năng phát triển các chương trình đào tạo chất lượng cao, đào tạo nghề, tiếng Anh, nghiên cứu khoa học và phát triển nguồn nhân lực phục vụ quá trình chuyển đổi số, chuyển đổi xanh của Việt Nam.

Như Giáo sư Roberto Rabel thuộc Đại học Victoria Wellington nhận định, giáo dục là một trong những khoản đầu tư lâu dài và bền vững nhất cho phát triển; hợp tác trong lĩnh vực này có thể đóng góp trực tiếp vào mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam.

Ở bình diện khu vực, chuyến thăm cũng tạo cơ hội để Việt Nam và New Zealand tăng cường phối hợp trước những biến động ngày càng phức tạp của môi trường chiến lược. Cả hai đều có lợi ích trong việc củng cố chủ nghĩa đa phương, đề cao luật pháp quốc tế, duy trì vai trò trung tâm của ASEAN và xây dựng một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương hòa bình, ổn định, bao trùm và dựa trên luật lệ.

Trong đó, hợp tác về biển là một lĩnh vực có nhiều tiềm năng. Hai nước cùng có lợi ích trong bảo đảm tự do hàng hải, hàng không, quản lý bền vững tài nguyên biển và giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó UNCLOS 1982 giữ vai trò nền tảng.

Việc chia sẻ kinh nghiệm và phối hợp trong các vấn đề biển vừa phục vụ lợi ích song phương, vừa góp phần củng cố các nguyên tắc chung về quản trị biển trong khu vực.

Chuyến thăm đồng thời có ý nghĩa quan trọng đối với giao lưu nhân dân và cộng đồng người Việt Nam tại New Zealand. Khoảng cách địa lý giữa 2 nước có thể được thu hẹp đáng kể thông qua việc tăng cường kết nối hàng không, du lịch, văn hóa, giáo dục và giao lưu cộng đồng.

Việc thúc đẩy các đường bay thuận lợi giữa 2 nước, nếu được hiện thực hóa, sẽ mở thêm không gian cho thương mại, đầu tư, giáo dục, du lịch và kết nối doanh nghiệp.

Đặc biệt, việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại New Zealand thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với kiều bào, đồng thời khẳng định vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài như một cầu nối quan trọng giữa Việt Nam với thế giới.

Với khoảng 14.000 người, cộng đồng người Việt tại New Zealand đang ngày càng hội nhập sâu vào xã hội sở tại nhưng vẫn duy trì bản sắc, tình cảm và sự gắn bó với quê hương. Đây là nguồn lực xã hội quan trọng góp phần tăng cường hiểu biết và quan hệ hữu nghị giữa nhân dân 2 nước.

Ở tầm rộng hơn, chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới New Zealand là sự cụ thể hóa đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của Việt Nam; đồng thời, thể hiện chủ trương chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tranh thủ môi trường hòa bình, hợp tác và các nguồn lực bên ngoài để phục vụ phát triển đất nước.

Sau hơn 50 năm vun đắp, quan hệ Việt Nam - New Zealand đã có nền tảng vững chắc để bước vào giai đoạn phát triển mới. Trên cơ sở Đối tác chiến lược toàn diện, chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tạo thêm động lực chuyển hóa tin cậy chính trị thành những kết quả hợp tác thực chất, mở rộng không gian hợp tác và viết tiếp một chương mới của quan hệ 2 nước, vì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững ở khu vực./.

Hà Anh