Sự kiện và Quan điểm

Đổi mới mô hình phát triển - Từ tư duy tăng trưởng đến tư duy kiến tạo năng lực quốc gia

TS Nguyễn Sĩ Dũng 03/08/2026 08:21

Sau bốn mươi năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu phát triển có ý nghĩa lịch sử, từ một nền kinh tế nghèo nàn, khép kín trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao và ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Những thành tựu ấy khẳng định tính đúng đắn của mô hình phát triển đã được lựa chọn trong suốt chặng đường vừa qua.

doi-moi-mo-hinh-phat-trien-nq19-cover.jpg

TS Nguyễn Sĩ Dũng

Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu phát triển có ý nghĩa lịch sử, từ một nền kinh tế nghèo nàn, khép kín trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao và ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Những thành tựu ấy khẳng định tính đúng đắn của mô hình phát triển đã được lựa chọn trong suốt chặng đường vừa qua.

Tuy nhiên, một mô hình từng tạo nên thành công không có nghĩa sẽ tiếp tục tạo nên thành công trong một giai đoạn phát triển mới. Khi mục tiêu của đất nước không còn chỉ là tăng trưởng nhanh mà là trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao, có nền công nghiệp hiện đại, có năng lực cạnh tranh toàn cầu và tự chủ chiến lược, chính mô hình phát triển cũng phải được đổi mới.

Điều đáng chú ý là, Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 28-7-2026, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, “Về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam” (Nghị quyết số 19), không chỉ đề xuất những động lực tăng trưởng mới.

Sâu xa hơn, Nghị quyết đang mở ra một cách hiểu mới về phát triển. Và khi quan niệm về phát triển thay đổi, mô hình phát triển tất yếu cũng phải thay đổi. Vì vậy, muốn hiểu mô hình phát triển mới của Việt Nam, trước hết cần trả lời một câu hỏi nền tảng: phát triển là gì?

01-hoi-nghi.jpg
Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, ngày 29-7-2026_Ảnh: quochoi.vn

Từ tư duy tăng trưởng đến tư duy phát triển - cuộc đổi mới quan trọng nhất

Trong nhiều năm, tăng trưởng và phát triển thường được sử dụng như những khái niệm gần đồng nghĩa. Khi tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng, thu nhập bình quân đầu người được cải thiện hay quy mô nền kinh tế mở rộng, người ta thường nói đất nước đang phát triển. Cách tiếp cận đó phù hợp khi nhiệm vụ trọng tâm là đưa nền kinh tế thoát khỏi tình trạng nghèo nàn và thiếu hụt nguồn lực.

Nhưng khi đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới, chỉ nhìn phát triển qua lăng kính tăng trưởng đã không còn đủ. Tăng trưởng trả lời câu hỏi nền kinh tế tạo ra thêm bao nhiêu của cải. Phát triển phải trả lời một câu hỏi lớn hơn: quốc gia đã mạnh lên như thế nào sau quá trình tăng trưởng ấy.

Một nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh nhưng vẫn phụ thuộc vào công nghệ bên ngoài, năng suất lao động thấp, doanh nghiệp nội địa yếu, chất lượng nguồn nhân lực hạn chế hoặc sức chống chịu trước các cú sốc còn mong manh. Trong trường hợp đó, tăng trưởng đã diễn ra, nhưng nền tảng của phát triển chưa thực sự được củng cố.

Chính ở điểm này, Nghị quyết số 19 mở ra một bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển. Mặc dù không đưa ra một định nghĩa trực tiếp, toàn bộ nội hàm của Nghị quyết đều hướng tới một cách tiếp cận mới: phát triển không chỉ là gia tăng quy mô của nền kinh tế, mà là quá trình nâng cao đồng thời năng lực của con người, doanh nghiệp, khoa học - công nghệ, thể chế, quản trị quốc gia và sức mạnh tổng hợp của đất nước.

Từ nội hàm đó, có thể khái quát: phát triển là quá trình không ngừng kiến tạo, tích lũy và nâng cao các năng lực của quốc gia nhằm tạo ra sự gia tăng bền vững về thịnh vượng, chất lượng cuộc sống của nhân dân và sức mạnh tổng hợp quốc gia.

Định nghĩa này đặt năng lực quốc gia vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển.

Đây cũng chính là điểm khác biệt căn bản giữa tư duy tăng trưởng và tư duy phát triển. Nếu tư duy tăng trưởng chủ yếu quan tâm đến kết quả, thì tư duy phát triển quan tâm trước hết đến khả năng tạo ra kết quả.

Nếu tư duy tăng trưởng đặt câu hỏi nền kinh tế tạo ra thêm bao nhiêu của cải, thì tư duy phát triển đặt câu hỏi quốc gia đã tạo dựng thêm được những năng lực gì để tiếp tục tạo ra của cải trong tương lai.

Một dự án đầu tư chỉ làm tăng sản lượng chưa chắc đã làm cho quốc gia phát triển hơn. Nhưng nếu dự án ấy đồng thời hình thành công nghệ mới, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị và nâng cao năng lực quản trị, giá trị lớn nhất của nó không còn nằm ở phần sản lượng được tạo ra hôm nay, mà ở năng lực phát triển được tích lũy cho ngày mai.

Nhìn từ góc độ đó, tăng trưởng, phát triển và năng lực quốc gia là 3 khái niệm có quan hệ hữu cơ nhưng không đồng nhất. Tăng trưởng là kết quả. Phát triển là quá trình. Năng lực quốc gia là nền tảng tạo ra và duy trì quá trình ấy.

Đó cũng chính là ý nghĩa sâu xa của sự chuyển đổi tư duy mà Nghị quyết số 19 đang đặt nền móng. Nếu trước đây trọng tâm là huy động và khai thác các nguồn lực sẵn có để thúc đẩy tăng trưởng, nay trọng tâm phải là không ngừng kiến tạo những năng lực mới để tạo ra sự phát triển nhanh hơn, bền vững hơn và có sức cạnh tranh cao hơn.

02-hoi-thao.jpg
Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề "Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số" tại Hải Phòng, ngày 26-5-2026_Ảnh: vneconomy.vn

Mô hình phát triển mới - cơ chế kiến tạo năng lực quốc gia

Nếu quan niệm về phát triển thay đổi, mô hình phát triển cũng phải thay đổi. Đây chính là logic xuyên suốt của Nghị quyết số 19.

Trong nhiều năm, mô hình phát triển thường được hiểu như một tập hợp các động lực tăng trưởng hoặc một cơ cấu ưu tiên phát triển giữa các ngành, các lĩnh vực.

Cách tiếp cận đó không sai, nhưng mới phản ánh phần "hình thức" của mô hình phát triển. Điều quyết định bản chất của một mô hình không phải chỉ là phát triển ngành nào hay ưu tiên nguồn lực nào, mà là quốc gia tổ chức quá trình phát triển bằng cơ chế nào.

Vì vậy, có thể hiểu: mô hình phát triển là cơ chế tổ chức và vận hành mà thông qua đó một quốc gia huy động, phân bổ và chuyển hóa các nguồn lực thành năng lực, năng suất, thịnh vượng và sức mạnh quốc gia.

Định nghĩa này cho thấy mô hình phát triển không phải là một danh mục chính sách, mà là một cơ chế vận hành. Giá trị của một mô hình không nằm ở lượng nguồn lực mà quốc gia sở hữu, mà ở khả năng biến những nguồn lực ấy thành năng lực cạnh tranh và sức mạnh phát triển lâu dài.

Từ cách tiếp cận đó, có thể khái quát nội hàm của mô hình phát triển mới mà Nghị quyết số 19 hướng tới: mô hình phát triển mới của Việt Nam là cơ chế tổ chức và vận hành quốc gia nhằm không ngừng chuyển hóa các nguồn lực thành năng lực quốc gia, năng lực thành năng suất, năng suất thành thịnh vượng và thịnh vượng thành sức mạnh quốc gia trên nền tảng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực, quản trị hiện đại và sự tham gia của toàn xã hội.

Điểm mới của mô hình này không phải ở chỗ phủ nhận vai trò của vốn, đất đai, lao động hay tài nguyên. Những nguồn lực ấy vẫn là điều kiện cần của phát triển.

Điều thay đổi là cách nhìn nhận về vai trò của chúng. Nguồn lực không còn là đích đến của chính sách, mà trở thành điểm xuất phát của một quá trình chuyển hóa liên tục để tạo ra những năng lực mới. Theo đó, mô hình phát triển mới thể hiện 5 chuyển đổi quan trọng.

Thứ nhất, từ khai thác nguồn lực sang kiến tạo năng lực. Nếu mô hình cũ chủ yếu tạo tăng trưởng bằng việc huy động thêm các nguồn lực sẵn có, thì mô hình mới hướng tới nâng cao năng lực của con người, doanh nghiệp, khoa học - công nghệ và quản trị quốc gia.

Điều quyết định sức cạnh tranh của nền kinh tế không còn là sử dụng nhiều nguồn lực hơn, mà là sử dụng thông minh hơn và tạo ra nhiều năng lực mới hơn.

Thứ hai, từ tăng trưởng dựa vào đầu vào sang tăng trưởng dựa vào năng suất và đổi mới sáng tạo. Khi dư địa của lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên ngày càng thu hẹp, năng suất trở thành nguồn gốc chủ yếu của tăng trưởng.

Nhưng năng suất chỉ có thể được nâng lên khi khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực trở thành động lực phát triển của toàn bộ nền kinh tế.

Thứ ba, từ lợi thế chi phí sang lợi thế năng lực. Trong một thế giới cạnh tranh bằng công nghệ và tri thức, lợi thế bền vững không còn nằm ở chi phí thấp mà ở năng lực thiết kế, sáng tạo, quản trị, làm chủ công nghệ và tham gia vào những khâu có giá trị gia tăng cao của chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ tư, từ phát triển riêng lẻ sang phát triển hệ sinh thái. Giá trị ngày càng được tạo ra bởi sự kết nối giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và các chủ thể xã hội.

Phát triển không còn là kết quả của từng ngành hay từng địa phương riêng biệt, mà là kết quả của sự cộng hưởng giữa các năng lực trong toàn hệ thống.

Thứ năm, từ tăng trưởng ngắn hạn sang phát triển bền vững và tự chủ. Mục tiêu của mô hình mới không chỉ là tạo ra nhiều của cải hơn trong hiện tại, mà còn phải hình thành năng lực để đất nước có thể tiếp tục phát triển nhanh, bền vững và chủ động thích ứng trước những biến động của thế giới.

Có thể nói, nếu tư duy phát triển mới trả lời câu hỏi “phát triển là gì?”, thì mô hình phát triển mới trả lời câu hỏi "quốc gia tạo ra sự phát triển bằng cách nào?".

Câu trả lời mà Nghị quyết số 19 gợi mở rất rõ ràng: không phải bằng cách liên tục bổ sung thêm nguồn lực, mà bằng cách không ngừng nâng cao năng lực chuyển hóa nguồn lực của cả quốc gia. Đó chính là bước chuyển từ tư duy tăng trưởng sang tư duy kiến tạo năng lực quốc gia.

03-vietnam-ai.jpg
Lễ bế mạc và công bố Giải pháp Đổi mới sáng tạo Việt Nam 2026 tại Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC), Hà Nội, ngày 19-7-2026_Ảnh: TTXVN

Đổi mới mô hình phát triển là đổi mới cách kiến tạo tương lai

Lịch sử phát triển của các quốc gia cho thấy, mỗi bước nhảy vọt đều bắt đầu từ một sự đổi mới về tư duy. Công cuộc đổi mới năm 1986 đã giải phóng mạnh mẽ các nguồn lực phát triển của đất nước. Hôm nay, Nghị quyết số 19 đang mở ra một chặng đường cải cách mới: kiến tạo các năng lực phát triển của quốc gia.

Nhìn từ góc độ đó, ý nghĩa lớn nhất của Nghị quyết không chỉ là xác lập một mô hình phát triển mới, mà còn góp phần định hình một tư duy phát triển mới. Tăng trưởng vẫn là mục tiêu quan trọng, nhưng không còn là mục tiêu duy nhất.

Điều quyết định tương lai của Việt Nam là khả năng không ngừng tạo dựng những năng lực mới về con người, khoa học - công nghệ, doanh nghiệp, quản trị và đổi mới sáng tạo.

Nếu nguồn lực quyết định một quốc gia có thể bắt đầu từ đâu, thì năng lực quyết định quốc gia ấy có thể đi được bao xa. Bởi vậy, đổi mới mô hình phát triển, xét đến cùng, không chỉ là đổi mới phương thức tạo ra tăng trưởng, mà là đổi mới cách kiến tạo tương lai của đất nước.

Đó cũng chính là thông điệp có ý nghĩa lâu dài mà Nghị quyết số 19 gửi tới toàn bộ hệ thống chính trị và cộng đồng doanh nghiệp trên con đường hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI./.

TS Nguyễn Sĩ Dũng