Chính trị - Thời sự

97 năm Công đoàn Việt Nam: Từ ngọn lửa đấu tranh đến điểm tựa của người lao động

Thu Thanh 29/07/2026 13:50

Ra đời từ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, trải qua 97 năm xây dựng và trưởng thành (1929 - 2026), Công đoàn Việt Nam đã đồng hành cùng dân tộc qua những chặng đường lịch sử đầy gian khó.

Trước yêu cầu mới của nền kinh tế số và thị trường lao động đang biến đổi nhanh chóng, tổ chức Công đoàn tiếp tục đổi mới để không chỉ bảo vệ quyền lợi, mà còn cùng người lao động nâng cao năng lực, cải thiện thu nhập và chủ động bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Khởi nguồn từ khát vọng đoàn kết và tự giải phóng

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, cùng với quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, giai cấp công nhân Việt Nam từng bước hình thành. Phần lớn họ là những người nông dân mất ruộng đất, thợ thủ công bị phá sản, buộc phải làm việc trong các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền với điều kiện khắc nghiệt và chế độ bóc lột nặng nề.

Từ chính cuộc sống cơ cực ấy, nhu cầu đoàn kết để bảo vệ quyền lợi ngày càng trở nên cấp thiết. Những hội tương tế, hội ái hữu và tổ chức công hội lần lượt ra đời, đánh dấu sự chuyển biến từ những phản ứng tự phát sang đấu tranh có tổ chức.

Cuối năm 1920, Công hội Ba Son do người công nhân yêu nước Tôn Đức Thắng vận động thành lập đã đặt một dấu mốc quan trọng trong quá trình tập hợp lực lượng công nhân Việt Nam.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là người đặt nền móng tư tưởng và lý luận cho sự ra đời của tổ chức Công đoàn Việt Nam. Từ thực tiễn tham gia phong trào công nhân quốc tế, Người sớm chỉ rõ Công hội phải thực hiện nhiều nhiệm vụ gắn kết chặt chẽ với nhau: tập hợp công nhân, nâng cao hiểu biết, cải thiện đời sống, giữ gìn quyền lợi và đóng góp cho dân tộc.

Tư tưởng ấy không chỉ định hình mục tiêu của tổ chức Công đoàn trong buổi đầu thành lập, mà còn trở thành giá trị xuyên suốt trong gần một thế kỷ phát triển.

Ngày 28-7-1929, Đại hội đại biểu Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ lần thứ nhất được tổ chức dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Đức Cảnh. Đại hội quyết định thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ, thông qua điều lệ, xác lập hệ thống tổ chức, xuất bản Báo Lao động, Tạp chí Công hội Đỏ và bầu Ban Chấp hành Trung ương lâm thời.

CÔNG HỘI BẮC KỲ
Ngày 28-7-1929, Đại hội đại biểu Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ lần thứ nhất được tổ chức dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Đức Cảnh_Ảnh: Sưu tầm

Từ dấu mốc này, giai cấp công nhân Việt Nam có một tổ chức cách mạng hoạt động với mục tiêu rõ ràng, làm hạt nhân tập hợp lực lượng và dẫn dắt phong trào. Ngày 28-7-1929, sau đó được xác định là Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam, mở đầu hành trình 97 năm gắn bó với người lao động và vận mệnh đất nước.

97 năm đồng hành cùng những bước ngoặt của dân tộc

Lịch sử Công đoàn Việt Nam là một phần không thể tách rời của lịch sử cách mạng Việt Nam. Qua từng giai đoạn, tên gọi, tổ chức và phương thức hoạt động có thể thay đổi, nhưng sứ mệnh tập hợp giai cấp công nhân, bảo vệ người lao động và phụng sự Tổ quốc luôn được giữ vững.

Trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, các tổ chức công hội, nghiệp đoàn, hội ái hữu và hội công nhân cứu quốc đã trở thành những hạt nhân quan trọng trong việc tuyên truyền, giác ngộ và tập hợp lực lượng.

Công nhân không chỉ đấu tranh đòi quyền lợi kinh tế, mà còn từng bước tham gia vào các phong trào chính trị, góp phần làm nên cao trào cách mạng 1930 - 1931, phong trào dân chủ 1936 - 1939 và thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, tổ chức Công đoàn nhanh chóng được củng cố. Ngày 20-7-1946, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chính thức được thành lập, đánh dấu bước trưởng thành mới của phong trào công nhân trong một đất nước độc lập.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Công đoàn vận động công nhân, viên chức thi đua sản xuất, xây dựng công xưởng, chế tạo vũ khí, phát huy sáng kiến và cải tiến kỹ thuật để phục vụ tiền tuyến.

Từ hậu phương đến vùng tự do, lực lượng công nhân đã vượt qua thiếu thốn, gian khổ, góp phần tạo nên nguồn lực vật chất và tinh thần cho thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, Công đoàn ở cả hai miền tiếp tục khẳng định vai trò tiên phong. Tại miền Bắc, công nhân, viên chức đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, phục hồi và phát triển kinh tế, chi viện sức người, sức của cho miền Nam.

Tại miền Nam, các tổ chức Công đoàn hoạt động trong điều kiện bị đàn áp khốc liệt, nhưng vẫn kiên trì bám cơ sở, vận động người lao động đấu tranh, tham gia phong trào cách mạng và góp sức vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Tinh thần “mỗi người làm việc bằng hai” đã trở thành biểu tượng của ý chí lao động và trách nhiệm với đất nước. Những đóng góp bền bỉ ấy cùng với sức mạnh của toàn dân tộc đã góp phần làm nên thắng lợi lịch sử mùa Xuân năm 1975, thống nhất đất nước.

Sau năm 1975, tổ chức Công đoàn hai miền được thống nhất, tạo điều kiện tập hợp và phát huy sức mạnh của đội ngũ công nhân, viên chức, lao động trong công cuộc khôi phục kinh tế và xây dựng đất nước.

Bên cạnh các phong trào thi đua lao động sản xuất, Công đoàn ngày càng tham gia sâu hơn vào việc xây dựng chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động, chế độ nghỉ ngơi và phúc lợi.

Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, yêu cầu đặt ra đối với tổ chức Công đoàn cũng thay đổi. Đại hội lần thứ VI Công đoàn Việt Nam năm 1988 quyết định đổi tên Tổng Công đoàn Việt Nam thành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, đồng thời xác định rõ phương hướng đổi mới vì việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội.

Từ đây, vai trò đại diện của Công đoàn được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu. Công đoàn không chỉ tổ chức phong trào, mà còn tham gia xây dựng chính sách, giám sát thực hiện pháp luật, thúc đẩy đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể và góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ.

cd.webp
97 năm đồng hành cùng những bước ngoặt của dân tộc_Ảnh: Vietnam.vn

Từ “chăm lo” đến đồng hành thực chất

Giá trị lớn nhất được bồi đắp trong suốt 97 năm qua là sự gắn bó với đoàn viên và người lao động. Trong mọi hoàn cảnh, Công đoàn luôn được kỳ vọng là nơi người lao động có thể tìm đến khi quyền lợi bị xâm phạm, khi đời sống gặp khó khăn hoặc khi cần được chia sẻ, hỗ trợ.

Trong thực tiễn, các cấp Công đoàn đã từng bước đổi mới phương thức hoạt động, chú trọng nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tham gia đối thoại với người sử dụng lao động, thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể.

Các vấn đề thiết thân như tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm, an toàn vệ sinh lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và điều kiện làm việc ngày càng được quan tâm cụ thể hơn.

Cùng với đó là nhiều chương trình hướng trực tiếp đến đời sống đoàn viên như hỗ trợ người lao động có hoàn cảnh khó khăn, chăm lo Tết, xây dựng nhà ở, hỗ trợ việc làm, tổ chức hoạt động văn hóa, thể thao và nâng cao đời sống tinh thần.

Những chương trình như “Bữa cơm Công đoàn” không chỉ có ý nghĩa vật chất, mà còn tạo nên không gian sẻ chia, gắn kết giữa tổ chức Công đoàn, doanh nghiệp và người lao động.

Tuy nhiên, trước những biến động ngày càng nhanh của thị trường lao động, chỉ hỗ trợ khi khó khăn phát sinh là chưa đủ. Công đoàn cần chuyển mạnh từ “chăm lo” sang “đồng hành”, từ giải quyết sự vụ sang phòng ngừa rủi ro, từ bảo vệ quyền lợi trước mắt sang tạo nền tảng phát triển lâu dài cho người lao động.

Đồng hành thực chất là giúp người lao động hiểu quyền và nghĩa vụ của mình; được trang bị kiến thức pháp luật; có cơ hội học tập, nâng cao kỹ năng; thích ứng với công nghệ mới và cải thiện năng suất. Quan trọng hơn, người lao động phải có khả năng chuyển hóa năng suất thành thu nhập tốt hơn và chất lượng sống cao hơn.

Đổi mới để không ai bị bỏ lại phía sau

Kỷ niệm 97 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam diễn ra trong thời điểm toàn hệ thống triển khai Nghị quyết Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam, nhiệm kỳ 2026 -2031.

Đây là giai đoạn nền kinh tế đang chịu tác động sâu sắc của chuyển đổi số, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, các mô hình việc làm mới và sự dịch chuyển nhanh chóng của chuỗi cung ứng.

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Đại hội_Ảnh: PV
Kỷ niệm 97 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam diễn ra trong thời điểm toàn hệ thống triển khai Nghị quyết Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam, nhiệm kỳ 2026 - 2031_Ảnh: TT

Những thay đổi đó mở ra nhiều cơ hội, nhưng cũng đặt người lao động trước nguy cơ mất việc, thiếu kỹ năng hoặc bị tụt lại phía sau. Trong bối cảnh ấy, Công đoàn không thể chỉ sử dụng những phương thức hoạt động truyền thống, mà phải đổi mới cả về tư duy, nội dung, công cụ và cách tiếp cận.

Trước hết, Công đoàn cần hiện diện rõ hơn tại những nơi người lao động đang sống và làm việc, nhất là trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước, khu công nghiệp, khu chế xuất và các mô hình lao động mới. Mọi hoạt động phải xuất phát từ nhu cầu thật, giải quyết vấn đề thật và mang lại lợi ích có thể đo đếm được.

Tiếp đó, Công đoàn phải đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, xây dựng các kênh tương tác nhanh, thuận tiện, giúp đoàn viên tiếp cận thông tin, tư vấn pháp luật, chương trình phúc lợi và hỗ trợ khi cần thiết.

Truyền thông Công đoàn cũng cần chuyển từ một chiều sang tương tác, từ nội dung nặng tính tuyên truyền sang những sản phẩm ngắn gọn, dễ hiểu, thiết thực và phù hợp với thói quen tiếp nhận thông tin trên nền tảng số.

Phong trào thi đua “Lao động giỏi, Năng suất cao, Thu nhập tốt” cũng thể hiện rõ tinh thần đổi mới ấy. Ba yếu tố lao động, năng suất và thu nhập được đặt trong một mối quan hệ thống nhất: người lao động được nâng cao năng lực; doanh nghiệp cải thiện hiệu quả; thành quả phát triển được chuyển hóa thành thu nhập và phúc lợi tốt hơn.

Đồng chí Ngọ Duy Hiểu - Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và đồng chí Phạm Đức Long - Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Chủ tịch Công đoàn Khoa học và Công nghệ Việt Nam - nhấn nút phát động phong trào thi đua “Lao động giỏi, năng suất cao, thu nhập tốt” giai đoạn 2026 - 2031_Ảnh: PV
Đồng chí Ngọ Duy Hiểu, Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và đồng chí Phạm Đức Long, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Chủ tịch Công đoàn Khoa học và Công nghệ Việt Nam nhấn nút phát động phong trào thi đua “Lao động giỏi, năng suất cao, thu nhập tốt” giai đoạn 2026 - 2031_Ảnh: TT

Đây phải là thước đo thực chất của phong trào Công đoàn trong giai đoạn mới. Một phong trào chỉ có ý nghĩa khi tạo ra sáng kiến, nâng cao kỹ năng, cải thiện điều kiện làm việc và mang lại lợi ích cụ thể cho đoàn viên, thay vì chỉ dừng ở khẩu hiệu hoặc thành tích hình thức.

Gần người lao động hơn để đi xa hơn

Sau 97 năm, Công đoàn Việt Nam đã đi một hành trình dài: từ những tổ chức công hội đầu tiên trong nhà máy, hầm mỏ đến một tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và người lao động.

Giá trị của hành trình ấy không chỉ được đo bằng những dấu mốc lịch sử, mà còn bằng niềm tin của hàng triệu đoàn viên. Niềm tin đó được tạo dựng từ khả năng lắng nghe, đại diện, bảo vệ và hành động vì những vấn đề thiết thân nhất của người lao động.

Bước vào kỷ nguyên mới, Công đoàn cần tiếp tục là điểm tựa tin cậy, đồng thời trở thành cầu nối hiệu quả giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước. Tổ chức Công đoàn phải bảo vệ quyền lợi chính đáng, nhưng cũng cần góp phần xây dựng lực lượng công nhân hiện đại, có trình độ, bản lĩnh, kỷ luật và khả năng làm chủ công nghệ.

Kỷ niệm 97 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam vì thế không chỉ là dịp nhìn lại một chặng đường vẻ vang. Đây còn là thời điểm để mỗi cán bộ Công đoàn tự đặt ra yêu cầu cao hơn đối với chính mình: gần cơ sở hơn, hiểu đoàn viên hơn, phản ứng nhanh hơn và tạo ra nhiều giá trị thiết thực hơn.

Từ ngọn lửa đấu tranh của những người công nhân đầu thế kỷ XX, Công đoàn Việt Nam hôm nay đang đứng trước một sứ mệnh mới: bảo vệ người lao động trước những biến động của thời đại, đồng hành để họ phát triển và khơi dậy sức sáng tạo của giai cấp công nhân trong công cuộc xây dựng đất nước.

Đó cũng là cách thiết thực nhất để truyền thống 97 năm tiếp tục được nối dài: không chỉ bằng niềm tự hào về quá khứ, mà bằng những thay đổi tích cực trong việc làm, thu nhập và cuộc sống của người lao động hôm nay./.

Thu Thanh