Văn hóa - Xã hội

Quan điểm của Đảng về xây dựng gia đình Việt Nam trong tình hình mới:Từ nền tảng văn hóa - xã hội đến chủ thể và thước đo của phát triển

TS Vũ Hồng Huy (Phó Vụ trưởng Vụ Y tế và Thể thao, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương) 01/08/2026 13:43

Xây dựng gia đình trong tình hình mới không chỉ nhằm bảo tồn một thiết chế truyền thống, mà còn là quá trình kiến tạo nền tảng con người, đạo đức, văn hóa, an sinh, niềm tin xã hội và sức mạnh nội sinh của quốc gia.

hoinghi252-2.jpg
Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam của Bộ Chính trị, ngày 25-2-2026_Ảnh: T.L

Quan điểm của Đảng về gia đình không ngừng được bổ sung, phát triển

Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, quan điểm của Đảng ta về gia đình không ngừng được bổ sung, phát triển: từ giải phóng con người trong quan hệ gia đình, phát huy gia đình như hậu phương và đơn vị kinh tế, đến xác lập gia đình là môi trường trực tiếp hình thành nhân cách, nền tảng văn hóa, nguồn lực nội sinh, chủ thể và thước đo của phát triển.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ mối quan hệ hữu cơ giữa gia đình và xã hội: “Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình”.

Tư tưởng ấy không chỉ khẳng định vị trí của gia đình mà còn đặt ra một nguyên lý phát triển hai chiều: xã hội có trách nhiệm kiến tạo điều kiện để gia đình phát triển; mỗi gia đình tốt đẹp lại tạo nên nền tảng đạo đức, con người và ổn định cho xã hội.

Trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, gia đình Việt Nam biến đổi nhanh về quy mô, cấu trúc, chức năng, quan hệ thế hệ, vai trò giới và phương thức giao tiếp.

Kinh tế thị trường mở rộng cơ hội tự chủ, nhưng đồng thời tạo áp lực về sinh kế, nhà ở, giáo dục, y tế, thời gian chăm sóc và cân bằng công việc - gia đình.

Di cư làm phân tách không gian cư trú; mức sinh thấp và già hóa dân số làm gia tăng nhu cầu chăm sóc; nền tảng số mở rộng khả năng kết nối nhưng cũng đưa vào đời sống gia đình những rủi ro mới về thông tin độc hại, bạo lực mạng, xâm phạm đời tư, lệ thuộc thiết bị và đứt gãy giao tiếp trực tiếp.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đặt xây dựng xã hội Việt Nam lành mạnh, kỷ cương, văn minh, an toàn và phát triển trong một chỉnh thể gắn với phát triển văn hóa, con người, an sinh xã hội, chăm lo nhóm yếu thế và bảo đảm an ninh con người.

Gia đình không còn chỉ là đối tượng của một chính sách xã hội chuyên biệt. Gia đình trở thành điểm hội tụ của xây dựng con người, chấn hưng đạo đức, phát triển văn hóa và hiện thực hóa mục tiêu hạnh phúc.

Vì vậy, nghiên cứu quan điểm của Đảng về xây dựng gia đình trong tình hình mới cần nhận diện logic phát triển trong tư duy của Đảng; làm rõ vị trí của gia đình trong mô hình phát triển đất nước; chỉ ra cơ chế chuyển hóa quan điểm chính trị thành chính sách, dịch vụ và kết quả thực chất trong đời sống nhân dân.

Ngay từ những năm đầu xây dựng chế độ mới, quan điểm của Đảng về gia đình gắn chặt với mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng phụ nữ và xây dựng con người mới.

Chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ phụ nữ và trẻ em là một thành quả chính trị - xã hội có ý nghĩa nền tảng.

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 thể chế hóa những nguyên tắc đó, hướng tới gia đình dân chủ, hòa thuận, trong đó các thành viên đoàn kết, thương yêu và giúp đỡ nhau tiến bộ.

Trong kháng chiến, gia đình là hậu phương trực tiếp, nơi nuôi dưỡng lòng yêu nước, ý chí hy sinh, tinh thần đoàn kết và trách nhiệm đối với cộng đồng.

Sức mạnh cách mạng không chỉ hình thành trong tổ chức chính trị hay chiến trường, mà còn được bồi đắp trong từng mái nhà, trong sự chịu đựng, đùm bọc và niềm tin của các thế hệ.

Bước vào đổi mới, Nghị quyết số 10-NQ/TW năm 1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp thừa nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ. Chủ trương này giải phóng sức sản xuất, khôi phục tính chủ động của hộ gia đình và tạo nền tảng vật chất để gia đình thực hiện tốt hơn các chức năng chăm sóc, giáo dục, tích lũy và đầu tư cho con người.

Từ đây, tư duy của Đảng về gia đình có bước chuyển quan trọng: gia đình không chỉ tái sản xuất sức lao động, mà còn là chủ thể tạo ra sinh kế, của cải, năng lực tự chủ và sức chống chịu xã hội.

Kinh tế thị trường tạo thêm nguồn lực và cơ hội, nhưng cũng làm xuất hiện nguy cơ thương mại hóa quan hệ xã hội, suy giảm chuẩn mực, chạy theo lợi ích vật chất và đứt gãy truyền thống. Trước yêu cầu đó, Đảng ngày càng nhấn mạnh chức năng văn hóa và giáo dục của gia đình.

Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 21-2-2005 của Ban Bí thư xác định gia đình là nơi duy trì nòi giống, môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống, chống tệ nạn xã hội và tạo nguồn nhân lực phục vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014 tiếp tục yêu cầu xây dựng gia đình thực sự là nơi hình thành, nuôi dưỡng nhân cách văn hóa và giáo dục nếp sống; phát huy giá trị tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh.

Gia đình là thiết chế xã hội đặc biệt, nơi con người được sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục, bảo vệ và trao truyền những giá trị căn bản của dân tộc.

Một bước phát triển có ý nghĩa lý luận trong tư duy của Đảng là chuyển từ nhấn mạnh từng phẩm chất riêng lẻ sang tiếp cận gia đình như một hệ giá trị có quan hệ hữu cơ với hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam.

Văn kiện Đại hội XIII đặt ra yêu cầu nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới.

Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục khẳng định việc hình thành, hoàn thiện các hệ giá trị có vai trò định hướng, thống nhất ý chí, tình cảm và định hướng phát triển bền vững; đồng thời yêu cầu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam.

Nghị quyết số 80-NQ/TW tiếp tục nâng tầm văn hóa thành nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực lớn, trụ cột và “hệ điều tiết” của phát triển nhanh, bền vững; đồng thời xác định phát triển con người trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam.

Nghị quyết số 80-NQ/TW cụ thể hóa rõ hơn hệ giá trị gia đình bằng 4 thành tố: “ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh”, đặt trong quan hệ đồng bộ với hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị quốc gia và chuẩn mực con người Việt Nam.

Điều này cho thấy gia đình không chỉ là nơi lưu giữ những giá trị có sẵn, mà là không gian sáng tạo, thực hành, kiểm nghiệm và trao truyền giá trị.

Giá trị quốc gia chỉ có sức sống khi được cụ thể hóa thành cách sống trong từng gia đình; chuẩn mực con người chỉ bền vững khi được củng cố bằng quan hệ yêu thương, trách nhiệm và nêu gương hằng ngày.

Đặt trong lĩnh vực gia đình, quan điểm “Dân là gốc” đòi hỏi việc đánh giá công tác gia đình phải đi từ kết quả người dân cảm nhận: gia đình có an toàn hơn không, trẻ em có được phát triển tốt hơn không, người cao tuổi có được chăm sóc trong phẩm giá không, phụ nữ và nam giới có bình đẳng hơn không, các thành viên có nhiều khả năng gắn kết và hỗ trợ nhau hơn không.

Từ đó, có thể khái quát bước phát triển mới trong tư duy của Đảng: gia đình đồng thời là nền tảng xã hội, chủ thể văn hóa, nguồn lực phát triển, đối tượng được bảo vệ và một thước đo của xã hội hạnh phúc.

image.png
Ảnh minh họa.

Nội hàm cốt lõi trong quan điểm của Đảng về xây dựng gia đình trong tình hình mới

Gia đình thuộc đời sống riêng của con người, nhưng những điều kiện bảo đảm cho gia đình phát triển lại mang tính xã hội sâu sắc. Việc làm, thu nhập, nhà ở, giáo dục, y tế, giao thông, dân số, di cư, môi trường, an ninh và công nghệ, chuyển đổi số,… đều tác động trực tiếp đến năng lực thực hiện chức năng của gia đình. Vì vậy, xây dựng gia đình không thể chỉ giao cho một ngành hoặc thu hẹp trong các hoạt động tuyên truyền, vận động.

Nghị quyết số 80-NQ/TW yêu cầu văn hóa phải thấm sâu vào mọi quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án; coi con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực quan trọng nhất của phát triển bền vững.

Tinh thần này gợi mở một nguyên tắc quản trị quan trọng: mọi chính sách phát triển lớn đều cần được xem xét cả về tác động đối với gia đình và khả năng phát triển của con người trong gia đình.

Đường lối đúng chỉ tạo ra sức mạnh khi được chuyển hóa thành năng lực sống, hành vi, chuẩn mực, niềm tin và hành động cụ thể của con người. Gia đình chính là một thiết chế chuyển hóa như vậy.

Tăng trưởng kinh tế chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo điều kiện để gia đình có sinh kế ổn định, nuôi dạy con tốt hơn, chăm sóc người già tốt hơn và có nhiều thời gian sống có chất lượng. Giáo dục chỉ bền vững khi kiến thức được giảng dạy ở nhà trường được củng cố bằng nếp sống và sự nêu gương trong gia đình.

Xây dựng nội hàm và các giá trị văn hóa chỉ đi vào chiều sâu khi được thực hành trong quan hệ vợ chồng, cha mẹ - con cái, anh chị em và giữa các thế hệ trong gia đình.

Nghị quyết số 80-NQ/TW yêu cầu tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa gia đình - nhà trường - xã hội trong hình thành, hoàn thiện nhân cách, đặc biệt đối với thế hệ trẻ.

Trong tam giác này, gia đình là điểm khởi đầu và nơi duy trì tính liên tục của giáo dục. Nếu gia đình suy yếu về chức năng giáo dục và chăm sóc, xã hội phải bỏ ra chi phí lớn hơn để xử lý hậu quả về hành vi bạo lực, tội phạm, sức khỏe tinh thần và suy giảm niềm tin.

Giá trị gia đình Việt Nam kết tinh trong yêu thương, nghĩa tình, thủy chung, hiếu kính, trách nhiệm, đoàn kết và tương trợ. Tuy nhiên, kế thừa truyền thống không đồng nghĩa bảo lưu mọi tập quán cũ lạc hậu.

Những biểu hiện gia trưởng, trọng nam khinh nữ, áp đặt hôn nhân, che giấu bạo lực, tuyệt đối hóa sự hy sinh một chiều hoặc coi quyền uy cao hơn phẩm giá cá nhân cần được khắc phục.

Gia đình trong tình hình mới phải đồng thời bảo đảm tình nghĩa và quyền con người; trách nhiệm liên thế hệ và quyền tự chủ; nền nếp và đối thoại; truyền thống và năng lực thích ứng.

Nghị quyết số 80-NQ/TW nhấn mạnh xử lý hài hòa các quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, bảo tồn và phát triển, đời sống thực và không gian số. Đây cũng là nguyên tắc cần được vận dụng trong xây dựng gia đình: giữ căn cốt nhưng không khép kín, tiếp nhận tiến bộ nhưng không đánh mất bản sắc.

Một gia đình chỉ có thể được gọi là hạnh phúc khi phẩm giá, quyền và sự an toàn của từng thành viên được tôn trọng. Không thể lấy sự ổn định hình thức để che lấp sợ hãi, bạo lực, áp đặt hoặc tổn thương kéo dài.

Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 thể hiện bước phát triển quan trọng trong tư duy chính sách: tăng cường phòng ngừa, bảo vệ người bị bạo lực, phối hợp liên ngành và đặt nhóm dễ bị tổn thương vào trung tâm.

Bình đẳng giới cũng phải được nhìn nhận trong phân công lao động và trách nhiệm chăm sóc. Khi gánh nặng chăm sóc con nhỏ, người bệnh, người cao tuổi chủ yếu đặt lên phụ nữ, quyền tham gia thị trường lao động, thu nhập, cơ hội phát triển và an sinh dài hạn của phụ nữ đều bị ảnh hưởng.

Xây dựng gia đình tiến bộ, vì thế, phải đi cùng phát triển dịch vụ xã hội, chia sẻ trách nhiệm và công nhận giá trị của lao động chăm sóc.

Trong khủng hoảng, thiên tai, dịch bệnh, thất nghiệp, bệnh tật hay biến cố cá nhân, gia đình thường là nơi đầu tiên tiếp nhận và nâng đỡ con người. Tuy nhiên, không thể vì thế mà mặc nhiên chuyển mọi rủi ro và chi phí xã hội về cho gia đình.

Một gia đình tự chủ không phải là gia đình bị bỏ mặc; một xã hội đề cao trách nhiệm gia đình không có nghĩa Nhà nước, cộng đồng và thị trường được thoái thác trách nhiệm.

Văn kiện Đại hội XIV đặt an ninh con người trong chỉnh thể xã hội lành mạnh, an toàn và phát triển. Điều đó đòi hỏi hình thành hệ sinh thái hỗ trợ gia đình: dịch vụ chăm sóc trẻ em, chăm sóc dài hạn, tư vấn tâm lý, trợ giúp pháp lý, phòng ngừa bạo lực, hỗ trợ người chăm sóc và mạng lưới cộng đồng. Khi gia đình được hỗ trợ đúng lúc, sức chống chịu của toàn xã hội được củng cố.

Những vấn đề mới đặt ra đối với xây dựng gia đình Việt Nam

Thứ nhất, biến đổi nhân khẩu học đang tái cấu trúc quan hệ chăm sóc giữa các thế hệ. Mức sinh thấp, tuổi thọ tăng, già hóa nhanh và quy mô hộ gia đình thu nhỏ (tập trung ở các đô thị, thành phố lớn) làm gia tăng áp lực lên thế hệ đang trong độ tuổi lao động.

Nhiều người đồng thời phải nuôi dạy con, hỗ trợ con trưởng thành và chăm sóc cha mẹ già. Văn kiện Đại hội XIV nhận diện già hóa dân số là thách thức đa chiều đối với kinh tế, an sinh và văn hóa.

Thứ hai, áp lực kinh tế và cường độ lao động ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng quan hệ gia đình. Thu nhập tăng không tự động tạo ra hạnh phúc nếu thời gian dành cho nhau suy giảm, nhà ở thiếu ổn định, chi phí giáo dục và y tế cao, người lao động thường xuyên xa gia đình hoặc sống trong căng thẳng kéo dài.

Thứ ba, công nghệ số đang kiến tạo một không gian gia đình mới. Các thành viên có thể ở cùng một mái nhà nhưng sống trong những thế giới thông tin khác nhau. Thuật toán, nội dung ngắn, trò chơi trực tuyến và mạng xã hội cạnh tranh trực tiếp với vai trò giáo dục của cha mẹ.

Nghị quyết số 80-NQ/TW yêu cầu xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh từ gia đình, nhà trường đến xã hội và không gian số; đồng thời nhấn mạnh văn hóa thượng tôn pháp luật và làm trong sạch môi trường văn hóa số.

Thứ tư, sự đa dạng hóa các loại hình gia đình đòi hỏi chính sách bao trùm hơn. Gia đình đơn thân, gia đình di cư, gia đình có thành viên làm việc ở nước ngoài, gia đình tái hôn, gia đình người cao tuổi sống riêng và những hộ có hoàn cảnh đặc thù có nhu cầu khác nhau. Chính sách thiết kế theo một mô hình gia đình duy nhất dễ bỏ sót các nhóm cần hỗ trợ.

Thứ năm, khoảng cách giữa chủ trương đúng với năng lực thực thi vẫn là điểm nghẽn. Công tác gia đình liên quan đến văn hóa, dân số, y tế, giáo dục, tư pháp, công an, an sinh và chính quyền địa phương. Nếu trách nhiệm phân tán mà không có đầu mối điều phối và cơ chế giải trình, không chủ thể nào chịu trách nhiệm đến cùng về kết quả.

Đổi mới tư duy và phương thức xây dựng gia đình Việt Nam

Chuyển từ quản lý một lĩnh vực sang quản trị phát triển lấy gia đình làm trung tâm

Cần vượt khỏi cách tiếp cận coi gia đình là một lĩnh vực hành chính riêng biệt. Xây dựng gia đình phải trở thành chiều cạnh xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, phát triển con người, văn hóa, dân số, an sinh và quản trị quốc gia.

Điều này phù hợp với yêu cầu của Nghị quyết số 80-NQ/TW về coi trọng yếu tố văn hóa trong hoạch định chính sách và làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án.

Gia đình là nơi văn hóa được sống, không chỉ được tuyên truyền; vì vậy, chính sách văn hóa và chính sách phát triển phải gặp nhau ở chất lượng đời sống gia đình.

Mỗi chính sách lớn cần trả lời 3 câu hỏi: tác động thế nào đến đời sống gia đình; nhóm gia đình nào được hưởng lợi hoặc chịu rủi ro; điều kiện nào giúp gia đình chuyển hóa cơ hội phát triển thành kết quả thực tế.

Thiết lập đánh giá tác động gia đình trong quá trình xây dựng chính sách

Cần nghiên cứu thể chế hóa cơ chế đánh giá tác động gia đình đối với các chính sách có ảnh hưởng lớn đến việc làm, thu nhập, nhà ở, giáo dục, y tế, dân số, di cư, đô thị, môi trường và công nghệ. Mục đích không phải tạo thêm thủ tục, mà nhận diện sớm những chi phí xã hội có thể bị chuyển về gia đình.

Một chính sách tạo tăng trưởng nhưng làm gia tăng thời gian xa cách, áp lực chăm sóc, bất bình đẳng giới hoặc rủi ro đối với trẻ em và người cao tuổi cần được đánh giá đầy đủ hơn. Chính sách tốt phải tạo ra kết quả kinh tế và đồng thời mở rộng năng lực chăm sóc, giáo dục, gắn kết, bảo vệ của gia đình.

Đưa hệ giá trị gia đình từ văn kiện vào đời sống

Hệ giá trị “ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh” cần được chuyển hóa thành các chuẩn mực thực hành: yêu thương và trách nhiệm; tôn trọng và bình đẳng; hiếu học và lao động sáng tạo; kỷ cương và nêu gương; an toàn và trách nhiệm số; gắn bó gia đình với cộng đồng và Tổ quốc.

Việc triển khai không nên dừng ở khẩu hiệu hoặc danh hiệu. Cần tích hợp hệ giá trị vào giáo dục, truyền thông, hoạt động văn hóa cơ sở, tư vấn hôn nhân, chuẩn nghề nghiệp của người làm công tác gia đình và các mô hình cộng đồng.

Nghị quyết số 80-NQ/TW yêu cầu đẩy mạnh giáo dục hệ giá trị gia đình, nhân rộng gương người tốt, việc tốt và phát huy vai trò chủ thể của nhân dân trong sáng tạo, lan tỏa giá trị văn hóa.

Phát triển hệ sinh thái dịch vụ hỗ trợ gia đình

Nhà nước không làm thay gia đình, nhưng phải tạo điều kiện để gia đình có đủ năng lực thực hiện chức năng. Cần phát triển đồng bộ dịch vụ tư vấn hôn nhân và gia đình; chăm sóc sức khỏe tinh thần; hỗ trợ cha mẹ trong giáo dục trẻ; phòng ngừa và can thiệp bạo lực; chăm sóc dài hạn; công tác xã hội; trợ giúp pháp lý; dịch vụ hỗ trợ chăm sóc; nhà trẻ và trường mầm non phù hợp với người lao động.

Hệ sinh thái này cần vận hành dựa trên sự phối hợp giữa Nhà nước, cộng đồng, tổ chức xã hội, cơ sở cung cấp dịch vụ và thị trường. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, bảo đảm chuẩn mực, khả năng tiếp cận và công bằng; gia đình là chủ thể lựa chọn và đồng kiến tạo giải pháp phù hợp.

Xây dựng gia đình số an toàn, nhân văn và có năng lực tự bảo vệ

Giáo dục kỹ năng số phải trở thành một bộ phận của giáo dục gia đình. Cha mẹ cần được hỗ trợ để đồng hành với con trong môi trường số; trẻ em được trang bị khả năng nhận diện rủi ro; người cao tuổi được hướng dẫn sử dụng dịch vụ số an toàn.

Cùng với bảo vệ dữ liệu cá nhân và phòng, chống tội phạm mạng, cần xây dựng văn hóa sử dụng công nghệ trong gia đình: tôn trọng đời tư, kiểm soát thời gian thiết bị, duy trì giao tiếp trực tiếp, kiểm chứng thông tin và chịu trách nhiệm đối với hành vi trên mạng.

Quan điểm của Nghị quyết số 80-NQ/TW về xử lý hài hòa giữa đời sống thực và không gian số, giữa dữ liệu mở với an ninh, chủ quyền văn hóa số cần được cụ thể hóa thành chương trình xây dựng gia đình số an toàn.

Chuyển từ đánh giá phong trào sang đo lường kết quả thực chất

Cần xây dựng bộ chỉ báo về sức khỏe và năng lực phát triển của gia đình Việt Nam, gồm điều kiện sống và tự chủ kinh tế; mức độ an toàn và không bạo lực; bình đẳng trong phân công và ra quyết định; chất lượng quan hệ giữa các thế hệ; khả năng chăm sóc; sức khỏe thể chất và tinh thần; khả năng tiếp cận dịch vụ; năng lực số; sự tham gia cộng đồng; mức độ hài lòng, gắn kết và cảm nhận hạnh phúc.

Bộ chỉ báo không nhằm can thiệp sâu vào đời tư hay xếp hạng gia đình, mà để nhận diện vấn đề, phân bổ nguồn lực và đánh giá chính sách. Nó giúp chuyển trọng tâm từ số lượng hoạt động sang kết quả người dân thực sự cảm nhận.

Nêu cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và người đứng đầu

Gia đình của cán bộ, đảng viên là một không gian thể hiện trực tiếp đạo đức, trách nhiệm và văn hóa nêu gương. Sự mẫu mực không chỉ ở việc chấp hành pháp luật, mà còn ở lối sống, giáo dục con cháu, quan hệ vợ chồng, trách nhiệm với cha mẹ, cách sử dụng quyền lực, tài sản và ảnh hưởng xã hội.

Nghị quyết số 80-NQ/TW đề cao tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên và trách nhiệm của người đứng đầu trong phát triển văn hóa. Xây dựng gia đình liêm chính, nhân ái, có kỷ cương và trách nhiệm cộng đồng là một phương diện thiết thực của xây dựng Đảng về đạo đức.

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng gia đình là một quá trình phát triển liên tục, nhất quán về mục tiêu và ngày càng sâu sắc về nội hàm. Từ giải phóng con người trong quan hệ gia đình, phát huy gia đình như hậu phương và đơn vị kinh tế.

Trên hành trình xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, câu hỏi cuối cùng không chỉ là nền kinh tế lớn đến đâu, đô thị hiện đại đến mức nào hay công nghệ tiến nhanh ra sao, mà còn là thành quả phát triển đã đi vào từng mái ấm như thế nào?

Văn kiện Đại hội XIV và Nghị quyết số 80-NQ/TW tạo ra cơ sở chính trị - lý luận mới để nâng công tác xây dựng gia đình lên tầm chiến lược phát triển. Gia đình được đặt trong chỉnh thể xây dựng con người, hệ giá trị, môi trường văn hóa, an ninh con người và sức mạnh nội sinh quốc gia.

Bước tiếp theo không chỉ là tiếp tục khẳng định vai trò của gia đình, mà phải chuyển hóa quan điểm ấy thành thể chế, dịch vụ, dữ liệu, nguồn lực và trách nhiệm giải trình cụ thể.

Gia đình là nơi gần nhất với mỗi con người nhưng lại liên quan đến những mục tiêu lớn nhất của đất nước. Ở đó, gia đình là nơi trao truyền ký ức, bồi đắp niềm tin.

Một đất nước có thể vượt qua khó khăn khi từng gia đình còn là nơi nương tựa; một dân tộc có thể đi xa, khát vọng hùng cường khi mỗi gia đình biết giữ cội nguồn, nuôi khát vọng và dạy con người sống có trách nhiệm với nhau.

Vì vậy, xây dựng gia đình Việt Nam không phải là công việc ở phía sau phát triển. Đó là xây dựng nền móng con người, văn hóa, đạo đức và xã hội để đất nước phát triển nhanh hơn, bền vững hơn và nhân văn hơn. Gia đình hạnh phúc vừa là kết quả của phát triển, vừa là nơi khởi nguồn, nuôi dưỡng và kiểm chứng chất lượng của sự phát triển.

Trên hành trình xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, câu hỏi cuối cùng không chỉ là nền kinh tế lớn đến đâu, đô thị hiện đại đến mức nào hay công nghệ tiến nhanh ra sao, mà còn là thành quả phát triển đã đi vào từng mái ấm như thế nào; con người có được sống an toàn, được yêu thương, được tôn trọng phẩm giá và có tương lai trong chính gia đình mình hay không.

Gia đình là nơi gần nhất với mỗi con người, nhưng lại liên hệ trực tiếp với những mục tiêu lớn nhất của quốc gia: chất lượng dân số, nguồn nhân lực, đạo đức xã hội, bản sắc văn hóa, an sinh, trật tự, niềm tin và sức mạnh đoàn kết./.

TS Vũ Hồng Huy (Phó Vụ trưởng Vụ Y tế và Thể thao, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương)