Kinh tế và Hội nhập

Hệ sinh thái đầu tư - lợi thế mới trong thu hút dòng vốn chiến lược

Khánh Nguyên 08/07/2026 07:25

Trong cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài hiện nay, lợi thế không còn chủ yếu nằm ở ưu đãi, chi phí hay khả năng tiếp nhận thêm dự án, mà ở chất lượng hệ sinh thái đầu tư. Từ tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 8-6-2026, của Bộ Chính trị, “về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”, yêu cầu đặt ra là tạo nền tảng để dòng vốn chiến lược trở thành năng lực phát triển mới của nền kinh tế Việt Nam.

fdi-12.jpg
Sau 40 năm đổi mới và mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam_Ảnh: TTXVN

Chuyển từ số lượng sang chất lượng

Sau 40 năm đổi mới và mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam.

Khu vực này bổ sung nguồn lực cho đầu tư phát triển, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng xuất khẩu, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực, tạo việc làm, đưa công nghệ, phương thức quản trị và kinh nghiệm tổ chức sản xuất hiện đại vào nền kinh tế. Qua khu vực vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.

Tuy nhiên, yêu cầu phát triển hiện nay đã khác. Nền kinh tế có quy mô lớn hơn, độ mở cao hơn, vị thế quốc tế khác trước. Áp lực nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng, trình độ công nghệ và năng lực tự chủ cũng lớn hơn.

Vì thế, những thước đo quen thuộc như số vốn đăng ký, số dự án cấp phép, tỷ lệ lấp đầy khu công nghiệp không còn đủ để phản ánh chất lượng phát triển.

Một số mục tiêu đến năm 2030 theo Nghị quyết số 10-NQ/TW:

- Thu hút vốn đầu tư nước ngoài đăng ký giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 200 - 300 tỷ USD.
- Vốn đầu tư nước ngoài thực hiện đạt khoảng 150 - 200 tỷ USD.
- Khoảng 75% vốn đầu tư nước ngoài đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm lực về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại.
- Có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; trong đó có khoảng 500 - 1.000 nhà cung ứng cấp I.
- Tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt 45% - 50%.

Nghị quyết số 10-NQ/TW chỉ rõ những hạn chế cần khắc phục: chất lượng, hiệu quả thu hút, quản lý, sử dụng đầu tư nước ngoài chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; tỷ lệ dự án thâm dụng lao động, tài nguyên, đất đai, năng lượng, gia công, lắp ráp còn cao; tỷ lệ nội địa hóa, giá trị tăng thêm hình thành tại Việt Nam còn thấp; liên kết với doanh nghiệp trong nước chưa cao; chuyển giao công nghệ còn hạn chế; một số địa phương còn cạnh tranh thu hút đầu tư thiên về số lượng.

Những hạn chế này cho thấy, nếu chỉ nhìn vào lượng vốn và số dự án, chính sách đầu tư nước ngoài khó tạo bước chuyển về chất. Một dự án có công nghệ cao, quản trị hiện đại, tạo mạng lưới nhà cung ứng nội địa, đào tạo nhân lực kỹ thuật, mở thêm cơ hội nghiên cứu, thiết kế, đổi mới sáng tạo có thể tạo hiệu ứng lan tỏa lớn hơn nhiều so với một dự án quy mô vốn lớn nhưng giá trị gia tăng thấp, ít liên kết với khu vực trong nước.

Điểm mới quan trọng của Nghị quyết số 10-NQ/TW là chuyển từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; từ thu hút đầu tư theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng làm tiêu chí chủ yếu.

Với cách tiếp cận đó, hệ sinh thái đầu tư trở thành nền tảng của chính sách FDI trong giai đoạn mới. Hệ sinh thái yếu có thể vẫn thu hút được dự án, nhưng khó giữ được dự án tốt, khó nâng cấp dự án hiện hữu, khó kéo các khâu có giá trị cao hơn vào Việt Nam.

Hệ sinh thái mạnh tạo thêm năng lực lựa chọn nhà đầu tư, sàng lọc dự án, đàm phán cam kết và chuyển hóa nguồn lực bên ngoài thành năng lực phát triển của nền kinh tế.

Cần cách tiếp cận mới

Dòng vốn chất lượng cao không chỉ tìm kiếm ưu đãi. Các tập đoàn lớn quan tâm nhiều hơn đến sự ổn định của chính sách, tính minh bạch của môi trường đầu tư, chất lượng thực thi, chi phí tuân thủ, hạ tầng, năng lượng, nhân lực, dữ liệu, chuỗi cung ứng, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và khả năng mở rộng dài hạn. Cạnh tranh thu hút đầu tư, vì vậy, ngày càng trở thành cạnh tranh về chất lượng hệ sinh thái.

Sức hấp dẫn của hệ sinh thái đầu tư trước hết bắt đầu từ thể chế. Nghị quyết số 10-NQ/TW yêu cầu bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định, nhất quán, chi phí tuân thủ thấp, có khả năng dự báo cao, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Với nhà đầu tư, điều quan trọng không chỉ là ưu đãi được ghi trong văn bản, mà là cách chính sách được thực thi: thủ tục có rõ ràng không, thời hạn xử lý có ổn định không, các cơ quan có thống nhất cách hiểu không, vướng mắc có được tháo gỡ kịp thời không, cam kết của Nhà nước có được bảo đảm không.

fdi-13.jpg
Nghị quyết số 10-NQ/TW tạo nền tảng để dòng vốn chiến lược trở thành năng lực phát triển mới của nền kinh tế Việt Nam (trong ảnh: Công nhân làm việc trên dây chuyền sản xuất tại Công ty TNHH Điện tử Bumjim Vina, 100% vốn Hàn Quốc tại tỉnh Quảng Ninh)_Ảnh: TTXVN

Cùng với thể chế, hạ tầng là điều kiện trực tiếp quyết định khả năng tiếp nhận dòng vốn chất lượng cao. Nghị quyết nhấn mạnh phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại, gắn với quy hoạch quốc gia, vùng và địa phương; ưu tiên hạ tầng kết nối, trung tâm logistics tại các cảng biển đầu mối, sân bay quốc tế, đường bộ cao tốc, đường sắt cao tốc, đường thủy nội địa và các vùng động lực.

Các yêu cầu về điện, nước, hạ tầng số, quỹ đất sạch, dịch vụ hỗ trợ cho dự án chất lượng cao cũng được đặt ra rõ hơn, nhất là đối với trung tâm nghiên cứu và phát triển, trụ sở khu vực, trung tâm điều hành và các tổ hợp công nghiệp chiến lược.

Về lâu dài, sức hấp dẫn của dòng vốn chiến lược phụ thuộc nhiều vào nền tảng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nghị quyết số 10-NQ/TW ưu tiên thu hút đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ số, bán dẫn, dữ liệu, công nghiệp xanh, logistics hiện đại, dịch vụ chuỗi cung ứng và các dịch vụ giá trị gia tăng cao.

Những lĩnh vực này cần nhiều hơn quỹ đất và ưu đãi đầu vào. Muốn thu hút trung tâm nghiên cứu và phát triển, trung tâm thiết kế, trung tâm dữ liệu, trụ sở khu vực, Việt Nam cần có môi trường tri thức, nguồn nhân lực chất lượng cao, cơ chế bảo hộ tài sản trí tuệ, trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp công nghệ trong nước.

Nguồn nhân lực là thước đo rõ nhất của năng lực hấp thụ. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ trọng lao động qua đào tạo trong cơ cấu sử dụng lao động đạt khoảng 80%; nâng cao rõ rệt tỷ lệ người Việt Nam đảm nhiệm vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế, vận hành, chuỗi cung ứng trong các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao.

Chính sách FDI, vì vậy, không dừng ở tạo thêm việc làm, mà cần tạo việc làm có kỹ năng, vị trí có giá trị cao và cơ hội nâng cấp năng lực cho lao động Việt Nam.

Doanh nghiệp trong nước là mắt xích quyết định hiệu ứng lan tỏa. Nếu doanh nghiệp Việt Nam đứng ngoài chuỗi cung ứng, FDI khó tạo tác động sâu đến nền kinh tế.

Mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có 500 - 1.000 nhà cung ứng cấp I, cho thấy chính sách đã chuyển trọng tâm từ việc tạo điều kiện để doanh nghiệp FDI hoạt động tại Việt Nam sang yêu cầu gắn khu vực FDI với nền kinh tế Việt Nam.

Tổ chức lại không gian đầu tư để nâng cao giá trị lan tỏa

Một điểm đáng chú ý của Nghị quyết số 10-NQ/TW là yêu cầu phát triển đồng bộ, thống nhất hệ sinh thái đầu tư nước ngoài, gắn với chiến lược phát triển doanh nghiệp trong nước, thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo, hạ tầng logistics, dữ liệu và năng lượng.

Cách tiếp cận này đặt đầu tư nước ngoài trong cấu trúc phát triển chung của nền kinh tế, thay vì xử lý như một chính sách thu hút dự án riêng lẻ.

Trước đây, thu hút đầu tư thường được triển khai mạnh theo địa giới hành chính. Mỗi địa phương chuẩn bị quỹ đất, xây dựng danh mục dự án, tổ chức xúc tiến, ban hành chính sách hỗ trợ và cạnh tranh để có thêm dự án.

Cách làm này giúp phát huy tính chủ động của địa phương, nhưng cũng bộc lộ một số hạn chế, như cạnh tranh dàn trải, trùng lặp ngành nghề, thiếu liên kết vùng, thiếu cụm ngành đủ lớn, có nơi thiên về số lượng hơn chất lượng…

Giai đoạn mới đòi hỏi tổ chức lại không gian đầu tư theo quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng và chiến lược phát triển cụm ngành. Không cần địa phương nào cũng cần thu hút mọi loại dự án.

Có địa phương phù hợp với công nghiệp công nghệ cao; có địa phương có lợi thế về cảng biển, logistics, năng lượng; có địa phương mạnh về đại học, viện nghiên cứu, dịch vụ tài chính, đổi mới sáng tạo; có địa phương phù hợp với công nghiệp hỗ trợ hoặc đào tạo nhân lực.

Khi các lợi thế này được kết nối trong một không gian liên vùng, Việt Nam mới có thể hình thành hệ sinh thái đầu tư có chiều sâu. Từ đó, hoạt động xúc tiến đầu tư cũng cần thay đổi.

Với nhà đầu tư chiến lược, xúc tiến đầu tư không nên dừng ở giới thiệu tiềm năng, danh mục dự án và chính sách ưu đãi, mà cần trả lời được những điều kiện cốt lõi, như nhân lực, năng lượng, nhà cung ứng, hạ tầng dữ liệu, khả năng mở rộng và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Cùng với thu hút dự án mới, cần quản trị tốt vòng đời dự án. Thu hút đầu tư không kết thúc ở thời điểm cấp phép. Sau cấp phép còn quá trình triển khai, vận hành, mở rộng, đổi mới công nghệ, thực hiện cam kết về môi trường, lao động, chuyển giao công nghệ, nội địa hóa, phát triển nhà cung ứng. Quản trị tốt vòng đời dự án giúp Nhà nước vừa hỗ trợ nhà đầu tư, vừa bảo đảm dự án đóng góp đúng hướng vào mục tiêu phát triển.

Phát triển doanh nghiệp Việt Nam cũng cần trở thành một phần của chính sách đầu tư nước ngoài. Nếu doanh nghiệp trong nước yếu, thiếu thông tin, thiếu tiêu chuẩn, thiếu vốn, thiếu năng lực quản trị, cơ hội tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI sẽ hạn chế.

Chính sách công nghiệp hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, phát triển doanh nghiệp công nghệ, đổi mới sáng tạo, đào tạo nhân lực cần được thiết kế cùng với chính sách thu hút đầu tư nước ngoài.

Đến năm 2045, Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt mục tiêu khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển hiệu quả, bền vững, gắn kết chặt chẽ với kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân; góp phần đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất, dịch vụ, đổi mới sáng tạo, điều hành khu vực có sức cạnh tranh cao ở châu Á; tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đóng góp khoảng 30% GDP của đất nước.

Nhìn từ mục tiêu đó, xây dựng hệ sinh thái đầu tư cho dòng vốn chiến lược không cần là mở thêm ưu đãi để có thêm dự án. Đó là quá trình chuẩn bị năng lực của đất nước để lựa chọn được nhà đầu tư tốt hơn, tiếp nhận công nghệ cao hơn, tạo liên kết sâu hơn, nâng vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị.

Dòng vốn nước ngoài chỉ thật sự có ý nghĩa chiến lược khi được chuyển hóa thành năng lực sản xuất mới, năng lực công nghệ mới, năng lực quản trị mới và sức cạnh tranh mới của nền kinh tế Việt Nam./.

Khánh Nguyên