Phóng sự - Điều tra - Ghi chép

Diện mạo du ký về Điện Biên nửa đầu thế kỷ XX

La Nguyễn Hữu Sơn 03/07/2026 13:23

Mặc dù ở vùng rừng núi biên viễn xa xôi, giao thông cách trở nhưng vào giai đoạn đầu thế kỷ XX vẫn có nhiều trang ghi chép mang màu sắc du ký công vụ về Điện Biên của nhiều tác giả in trên Hà thành Ngọ báo, Phong hóa, Ngày nay, Trung Bắc tân văn...

vh-2.jpg
Một góc tỉnh Điện Biên_Ảnh: TL

Trên thực tế, ở các du ký này, đặc tính du ký công vụ thường lấn át tính chất thưởng ngoạn, phong cách kể sự lấn át tả cảnh, tả tình, thú chơi tao nhã.

Chủ thể tác giả ở đây thường là các viên chức, binh lính yêu thích việc ghi chép, thỏa mãn tính hiếu kỳ, khám phá vùng đất non cao mới lạ và trong suy nghĩ của họ, hầu như sẽ không có dịp trở lại.

Chính vì thế, các trang ghi chép lại thường in đậm những thông tin khác biệt, thiên về du ký đường rừng, du lịch mạo hiểm đặc sắc, độc đáo, đặc biệt cuốn hút độc giả các vùng đô thị, đồng bằng.

Trước hết, trong mối tương quan văn hóa về điệu múa xòe có nguồn gốc từ vùng Lai Châu - Điện Biên lan tỏa và phát triển ở Hòa Bình hồi đầu thế kỷ XX đã được Đinh Công Huy tập trung nhấn mạnh quê gốc điệu xòe: “xòe đâu phải là một món chơi riêng của Hòa Bình! Tôi thường nói thế nhưng thấy nó vui, nó giản dị và thanh nhã nên tôi bắt chước Lai Châu và lập ban Xòe kệ Sơn để giúp vui cho đám tiệc hay ngày hội” (Phong hóa, 1933)...

Nhìn chung, trên cơ sở các nguồn thông tin và trực diện trải nghiệm xem biểu diễn, các nhà hoạt động văn hóa, xã hội xác định rõ múa xòe của đồng bào dân tộc Thái từ vùng Lai Châu - Điện Biên đã bén duyên và phát triển ở Hòa Bình.

Điều quan trọng hơn, cho đến nay, di sản điệu múa xòe Thái hiện còn bảo tồn và đã được nghiên cứu, duy trì, quảng bá, phát triển như thế nào trên cội nguồn vùng đất quê hương Điện Biên?

Vào 2 năm 1930 - 1931, trong bối cảnh phức tạp vùng biên giới, nhà nước Việt - Pháp đã cử nhiều đội binh đi tuần tiễu, triệt phá, xóa bỏ các nhóm phỉ, giữ gìn trật tự trị an cho bản làng đồng bào.

Ký giả binh sĩ Đội Tứ đã tham gia nhiều cuộc hành quân dọc theo vùng biên giới 2 tỉnh Điện Biên, Lai Châu (đương thời gọi chung là Lai Châu) đã có nhiều trang phóng sự, ghi chép in đậm chất du ký công vụ với những định ngữ “Cảnh đường rừng...”, “Đi đường...”, “Trên đường...”, Tại làng...”...

Tỉnh Điện Biên nằm ở phía Tây vùng Tây Bắc Việt Nam; phía Đông giáp tỉnh Sơn La, phía Tây và Nam giáp nước bạn Lào, phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc); có địa hình phức tạp, nhiều sông suối, nhiều cánh đồng hẹp, đồi núi hiểm trở, chia cắt mạnh...

Dưới thời Pháp thuộc, đến năm 1909, Toàn quyền Đông Dương đã ra Nghị định thành lập tỉnh Lai Châu (gồm 2 tỉnh Điện Biên và Lai Châu), trong đó đặt Điện Biên làm trung tâm hành chính, cách Hà Nội 300km.

Vào năm 2025, tỉnh Điện Biên không thực hiện sáp nhập địa giới nhưng có quy hoạch lại 45 đơn vị hành chính cơ sở với 3 phường và 42 xã. So với cả nước, hiện tỉnh có diện tích xếp thứ 14, dân số xếp thứ 32, giữ vững trật tự, an ninh biên giới và đang từng bước phát triển, nâng cao đời sống nhân dân.

Trong du ký công vụ Từ đồn Lai Châu đến làng Ma Linh Thàu kể về chuyến hành quân đến làng (bản) Tả Phình (nay là xã Tả Phìn, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên; cách thị trấn Tủa Chùa khoảng 30km, cách thành phố Điện Biên 130km).

Đan xen giữa những ghi chép hoạt động nhà binh là những quan sát cụ thể, đặc tả sinh động về cảnh quan miền non cao: “5 giờ sáng, chúng tôi lục tục “xắp măng” ra đi... Mùa đông. Gió lạnh. Mưa phùn. Cảnh núi rừng mờ tỏ dưới những sương mù trắng phớt. Trên trời mây đen vân vẩn, nặng trịch như sắp đổ ụp xuống trần gian(...).

Lội hết suối, chúng tôi phải trèo qua một quả núi đội rừng. Con đường lên thẳng được độ hơn nửa cây số thì vòng trôn ốc, lên tận đỉnh núi, rồi từ đây lại giằng co mà xuống dần. Từ đây, con đường chỉ ngoằn ngoèo trên núi cỏ gianh.

Chúng tôi đi hết núi nọ sang núi kia, đi mãi, thỉnh thoảng mới phải xuống dưới, lội qua một cái suối nhỏ. Hai bên chỉ có núi đá đội rừng, núi cao chót vót, rừng rậm kín bưng” (Hà thành ngọ báo, 1932)...

Có khi Đội Tứ đặc tả những khó khăn trên đường, những điều tai nghe mắt thấy, cảnh tượng miền núi non hoang vắng và đời sống dân bản còn nhiều gian nan: “chúng tôi đi được 3 ngày thì tới Tả Phình...

Từ làng Tả Phình, chúng tôi đi 5 ngày thì tới làng Phù Phang (có 3 động là: Cống Võng, Nậm Cảm và Suối Vàng). Làng Phù Phang, dân sợ kéo đi trốn hết. Chúng tôi đóng ở làng này một đêm.

Hôm sau sáng tinh sương, chúng tôi lại đi, đi đến làng A Va Chai là chỗ quân giặc đóng. Từ đấy, chúng tôi không phải trèo núi, nhưng phải vượt qua cái “rừng lầy”. Chúng tôi gọi là “Rừng lầy”, vì đi ở đấy, đất bùn bắn lên tận đầu gối.

Trong “Rừng lầy” mọc tinh một giống cây lên cao quá đầu người, có nhiều ruồi vàng, nhiều vắt. Ruồi vàng đốt vào chỗ nào thì chỗ ấy phi thối thì sâu quảng. Gớm, đáng sợ là con vắt, mà ruồi vàng còn đáng sợ hơn! Những “bố” nào bị ruồi vàng đốt là mặt với cổ xù xì như da cóc” (Hà thành ngọ báo, 1932)...

Đến đoạn cuối, Đội Tứ kể lại quang cảnh “Tại địa phận giặc” và việc “đóng ở làng Ma Linh Thàu trong bốn ngày bốn đêm” thực sự gợi cảm, thi vị, tưởng đâu như trang viết của khách du lịch, du ngoạn, lãng du: “6 giờ sáng. Chung quanh núi rừng, rừng mờ tỏ trong lá màn sương. Trời bọc một tầng mây phẳng lì, xanh biếc.

Gió vi vút thổi, mưa lấm tấm bay. Một đàn cò trắng đua liệng ngang trời như vẽ trên tấm lụa xanh một vòng cung bán nguyệt(...). Ba giờ chiều. Trời tạnh hẳn, có gió hanh, vì hơi có ánh sáng mặt trời, tầng mây đã rách toạc từng mảnh(...). Chúng tôi đóng ở làng Ma Linh Thàu trong bốn ngày bốn đêm” (Hà thành ngọ báo, 1932)...

Còn đây là quang cảnh trấn lỵ Điện Biên 100 năm trước cũng như cách thức tổ chức hoạt động quân sự, đồn binh và sự luân chuyển binh lính giữa các vùng miền, kể cả việc phơi bày mặt trái đời lính: “Chúng tôi đi đúng hai ngày thì tới Điện Biên Phủ, đã thấy compagnie lính Sài Gòn đóng ở đó. Họ tới từ hôm trước, có lẽ cũng chỉ vì biết có lính Sài Gòn nên giặc lánh Điện Biên Phủ. Lúc ấy vào khoảng 5 giờ chiều, chúng tôi không vào đồn mà đóng trong một làng bên cạnh.

Trên đồn, cơ lính Nam Kỳ cho thổi kèn chào, chúng tôi cũng thổi kèn chào lại, chỉ có các quan hai bên đến thương thuyết với nhau. Còn lính bên nọ bên kia cấm không được đến gần nhau, trừ những khi có lệnh... Cảnh Điện Biên Phủ trông mà tối mắt. Toàn những núi cao, rừng rậm, suối chảy như thác. Họ nói ở đây nước độc lắm. Có khúc suối hễ thò cẳng xuống là rụng lông chân...

Đêm hôm ấy, chúng tôi đóng trong một làng mà người ta gọi là làng Thổ đen, làng này có chừng 30 nóc nhà, con gái có búi tóc, da ngăm ngăm bánh mật. Người nào cũng lanh lẹn, tinh khôn, hình như đã được một tia ánh sáng văn minh soi đến.

Những lý dịch đón rước chúng tôi long trọng. Nhưng muốn giữ kín việc chúng tôi đến, quan ba ra lệnh cho nhà nào phải về nằm yên nhà ấy, không được ra vào rộn rịp. Vào đến làng, trong bọn chúng tôi, nhiều người vì mệt về cuộc đi, nằm quay ra ngủ... Sáng hôm sau, đúng 6 giờ, chúng tôi phải rời Điện Biên Phủ để theo hút giặc” (Hà thành ngọ báo, 1933)...

nha-co.jpg
Ngôi nhà cổ hơn 200 tuổi ở bản Séo Phình, xã Tả Phìn, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên_Ảnh: laodong.vn

Một trường hợp khác, ký giả K.D. tại Điện Biên đã viết bài tường thuật chuyến du ngoạn công vụ của quan Toàn quyền Pasquier và quan Thống sứ Pages “giữa một đêm gió bão” trong 3 ngày (4 - 6-4-1934) đến Điện Biên: “Từ trước đến nay, các quan Toàn quyền và quan Thống sứ chưa ngài nào để vết chân trên đất Lai Châu. Thường chỉ có quan Thanh tra, Hành chính và Chính trị, một, hai năm một lần lên kinh lý.

Lần này là lần đầu, có cả quan Toàn quyền và quan Thống sứ cùng lên Lai Châu. Các ngài do đường bộ, mới khánh thành đáp ô tô lên, đường ấy lấy tên St. Poulof... Các phố xá và các công sở trang hoàng lộng lẫy, thể môn thì dựng ở phố chính, còn cờ quạt cắm suốt từ đầu tỉnh đến các con đường xe đi qua.

Các đồn, các làng đều nhận được giấy sức mỗi dân (Thái, Thổ, Mán, Mèo, Houni, Xa Phang, Yaos, Nhắng...) phải lên tỉnh vài người để trình diện quan Toàn quyền và quan Thống sứ. Trước hôm các quan Thủ hiến đến (ngày 4 Avril) tỉnh lị Lai Châu rõ ra quang cảnh một ngày đại hội, người các giống nói trên nô nức kéo ra tỉnh rất đông, quần áo sặc sỡ vì dân nào phải vận y phục của dân ấy” (Hà thành ngọ báo, 1934)...

Đọc lại các trang du ký giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX càng thấy rõ hơn cảnh quan thiên nhiên, truyền thống văn hóa và đời sống xã hội đồng bào các dân tộc quê hương Điện Biên. Đặc biệt càng thấu hiểu hơn tinh thần gắn kết cộng đồng, gắn bó bản làng đã làm nên phên giậu giữ vững biên cương Tổ quốc.

Với ý nghĩa là ký ức bảo tàng địa - lịch sử - văn hóa - nhân học - dân tộc học bằng ngôn từ nghệ thuật, du ký viết về Điện Biên từ một thế kỷ trước thực sự là những dấu nối truyền thống, góp phần giúp thế hệ hôm nay hiểu hơn về cha ông và thêm vững tin vào tương lai đất nước./.

La Nguyễn Hữu Sơn