Cơ hội lịch sử và yêu cầu hành động chiến lược
Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 4-2026, diễn ra ngày 4-5 dưới sự chủ trì của Thủ tướng Lê Minh Hưng, phát đi thông điệp điều hành có ý nghĩa chiến lược: Việt Nam kiên định mục tiêu tăng trưởng cao, nhưng tăng trưởng cao phải đi đôi với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, cải cách thể chế, giải phóng nguồn lực và nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế.

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu tăng trưởng 2 con số không chỉ là một chỉ tiêu kinh tế, mà còn là phép thử đối với năng lực cải cách, năng lực quản trị quốc gia và khả năng tổ chức thực thi.
Cơ hội lịch sử và yêu cầu phát triển mới
Việt Nam đang đứng trước thời điểm có tính bước ngoặt. Sau 40 năm đổi mới, nền kinh tế đã đạt nhiều thành tựu quan trọng: quy mô GDP mở rộng, xuất khẩu tăng mạnh, môi trường đầu tư cải thiện, đời sống nhân dân nâng lên và vị thế quốc gia được củng cố.
Tuy nhiên, một nền kinh tế đã lớn hơn không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào lao động giá rẻ, gia công lắp ráp, khai thác tài nguyên, mở rộng tín dụng và đầu tư theo chiều rộng.
Mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026 - 2030 vì vậy không chỉ là khát vọng, mà là yêu cầu phát triển mang tính lịch sử. Đây là điều kiện để Việt Nam rút ngắn khoảng cách với các nước đi trước, tránh bẫy thu nhập trung bình, tạo thêm nguồn lực cho quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội, giáo dục, y tế, khoa học - công nghệ và nâng cao đời sống nhân dân.
Bối cảnh quốc tế đang mở ra thời cơ mới. Chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo (AI), chuyển đổi xanh, năng lượng sạch và công nghệ cao đang tạo dư địa để các nền kinh tế năng động vươn lên.
Với vị trí địa-kinh tế thuận lợi, ổn định chính trị - xã hội, mạng lưới hiệp định thương mại tự do (FTA) rộng, dân số hơn 100 triệu người và thị trường nội địa còn lớn, Việt Nam có điều kiện chuyển từ gia công, lắp ráp sang các nấc thang giá trị cao hơn.
Những tháng đầu năm 2026 cho thấy nền kinh tế có nền tảng để tăng tốc: chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 4 tháng tăng 3,99%; thu ngân sách đạt trên 1,11 triệu tỷ đồng, bằng 44% dự toán và tăng 15,2%; tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt khoảng 344,2 tỷ USD, tăng 24,2%. Tuy nhiên, các sức ép về giá cả, tỷ giá, nhập siêu, năng lượng và biến động bên ngoài đòi hỏi điều hành thận trọng, linh hoạt.
Vì vậy, tăng trưởng 2 con số phải được đặt trên nền tảng ổn định vĩ mô, cải cách thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng suất. Đây không chỉ là mục tiêu kinh tế, mà là yêu cầu chiến lược để Việt Nam bứt phá trong giai đoạn phát triển mới.
Ổn định vĩ mô, cải cách thể chế và khơi thông nguồn lực
Tăng trưởng cao chỉ bền vững khi dựa trên nền tảng ổn định vĩ mô. Với Việt Nam, yêu cầu này càng cấp thiết do nền kinh tế có độ mở lớn, dễ chịu tác động từ giá năng lượng, lãi suất quốc tế, tỷ giá, thương mại toàn cầu và dòng vốn đầu tư.
Bốn tháng đầu năm 2026, xuất khẩu đạt 168,53 tỷ USD, tăng 19,7%, trong khi nhập khẩu đạt 175,64 tỷ USD, tăng 28,7%. Nhập khẩu tăng nhanh phản ánh nhu cầu sản xuất phục hồi, nhưng cũng đòi hỏi theo dõi sát cán cân thương mại, tỷ giá và sức hấp thụ của nền kinh tế.
Vì vậy, điều hành chính sách cần linh hoạt nhưng thận trọng. Giảm lãi suất phải đi đôi với kiểm soát chất lượng tín dụng; thúc đẩy đầu tư phải gắn với kỷ luật ngân sách; kích thích tổng cầu phải song hành với kiểm soát lạm phát; ổn định tỷ giá phải củng cố niềm tin vào đồng tiền và sức cạnh tranh quốc gia.
Tăng trưởng 2 con số không phải là nới lỏng mọi ràng buộc, mà càng đòi hỏi kỷ luật điều hành cao hơn. Ổn định vĩ mô chính là “neo chiến lược” để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, người dân yên tâm tiêu dùng, nhà đầu tư quốc tế cam kết dài hạn và nền kinh tế đủ sức chống chịu trước các cú sốc.
Cùng với ổn định vĩ mô, cải cách thể chế phải là động lực then chốt. Thể chế là “hạ tầng mềm” của phát triển: thủ tục chậm làm lỡ cơ hội đầu tư; điều kiện kinh doanh không cần thiết làm tăng chi phí thị trường; quy định thiếu minh bạch làm suy giảm niềm tin; cơ chế xin - cho làm méo mó cạnh tranh và phân bổ sai nguồn lực.
Việc Chính phủ ban hành 8 nghị quyết (ngày 29-4-2026) về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh là bước đi quan trọng, đưa cải cách từ chủ trương vào hành động.
Với việc sửa đổi, bổ sung 163 văn bản quy phạm pháp luật, bãi bỏ 184 thủ tục hành chính và 890 điều kiện kinh doanh, cải cách lần này không chỉ giảm giấy tờ, mà còn trả lại thời gian, chi phí và cơ hội phát triển cho người dân, doanh nghiệp.
Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới tăng trưởng cao, cải cách thủ tục hành chính không chỉ dừng ở cắt giảm văn bản. Quan trọng hơn, đổi mới phương thức quản trị: chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên rủi ro; từ tư duy “cho phép” sang nguyên tắc người dân, doanh nghiệp được làm những gì pháp luật không cấm; từ xử lý thủ công sang quản trị số; từ phân cấp hình thức sang phân cấp thực chất, gắn với kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình.
Tăng trưởng 2 con số không chỉ cần thêm vốn, mà quan trọng hơn là phải phân bổ nguồn lực hiệu quả. Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, nhưng không làm thay thị trường; nhiệm vụ then chốt là tạo cơ chế để đầu tư công kích hoạt đầu tư tư nhân, để vốn trong dân, vốn doanh nghiệp, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn thị trường tài chính và vốn tri thức cùng chảy vào phát triển.
Đầu tư công phải thực sự trở thành “vốn mồi” chiến lược, tập trung vào hạ tầng giao thông, năng lượng, logistics, đô thị, hạ tầng số, giáo dục, y tế, khoa học - công nghệ.
Giải ngân nhanh là cần thiết, nhưng không thể đánh đổi bằng đầu tư dàn trải, đội vốn, chậm tiến độ hay lợi ích nhóm. Điều cốt lõi là giải ngân đúng, hiệu quả và tạo năng lực sản xuất mới cho nền kinh tế.
Kinh tế tư nhân phải được đặt đúng vị trí là động lực quan trọng hàng đầu. Chính sách cần chuyển từ hỗ trợ tình thế sang tạo môi trường để doanh nghiệp lớn lên: tiếp cận bình đẳng đất đai, vốn, dữ liệu, công nghệ, nhân lực và thị trường; hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển thành doanh nghiệp; kết nối doanh nghiệp nhỏ và vừa vào chuỗi cung ứng; khuyến khích doanh nghiệp lớn đầu tư vào công nghệ, quản trị, thương hiệu và thị trường quốc tế.
Cùng với đó, thị trường vốn phải trở thành kênh huy động nguồn lực dài hạn, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Giải phóng nguồn lực không phải là buông lỏng quản lý, mà là chuyển Nhà nước từ can thiệp hành chính sang kiến tạo thể chế, bảo đảm cạnh tranh, kiểm soát rủi ro và bảo vệ lợi ích công cộng.

Khoa học - công nghệ, năng lực chống chịu và yêu cầu thực thi
Giai đoạn tới, Việt Nam không thể tiếp tục tăng trưởng chủ yếu bằng vốn, lao động giá rẻ và gia công lắp ráp. Muốn đạt tăng trưởng 2 con số và vươn lên nấc thang giá trị cao hơn, động lực then chốt phải là khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng suất tổng hợp. Vì vậy, chính sách khoa học - công nghệ phải gắn trực tiếp với mục tiêu tăng trưởng.
Cần tập trung vào công nghệ chiến lược, cơ chế đặt hàng quốc gia, ưu đãi mạnh cho nghiên cứu và phát triển (R&D), quỹ đầu tư mạo hiểm, trung tâm đổi mới sáng tạo, hạ tầng dữ liệu, an ninh mạng và đào tạo nhân lực số. Đồng thời, phải tạo không gian thử nghiệm có kiểm soát cho các mô hình kinh doanh mới.
Muốn đi nhanh, nền kinh tế cần động lực; muốn đi xa, phải có sức chống chịu. Trong bối cảnh thế giới đầy bất định - từ cạnh tranh chiến lược, xung đột địa-chính trị, biến động năng lượng, rào cản thương mại xanh đến rủi ro tài chính và biến đổi khí hậu - việc nâng cao khả năng chống chịu trở thành yêu cầu quan trọng.
Năng lực ấy trước hết nằm ở việc giữ vững các cân đối lớn về lương thực, năng lượng, ngân sách, tiền tệ, cán cân thanh toán, nợ công, việc làm và an sinh xã hội. Sâu xa hơn, đó là mức độ tự chủ của nền sản xuất, sức mạnh doanh nghiệp trong nước, năng lực công nghệ, chất lượng thể chế và niềm tin xã hội.
Việt Nam cần giảm phụ thuộc vào một số thị trường, mặt hàng và khu vực sản xuất giá trị gia tăng thấp; đồng thời, phát triển công nghiệp hỗ trợ, logistics, năng lượng sạch, nông nghiệp công nghệ cao, dịch vụ số và các ngành tri thức.
Cùng với đó là xây dựng hệ thống cảnh báo sớm, nâng cao năng lực dự báo và phản ứng chính sách. Khi đó, tăng trưởng 2 con số không chỉ là chạy nhanh hơn, mà phải chạy vững hơn, chủ động hơn và ít tổn thương hơn trước các cú sốc bên ngoài.
Mục tiêu tăng trưởng 2 con số không được quyết định bởi khẩu hiệu, mà bởi năng lực tổ chức thực hiện. Việt Nam có định hướng, tiềm năng và khát vọng; vấn đề cốt lõi là đưa nghị quyết vào cuộc sống, để chính sách không nghẽn ở khâu trung gian, phân cấp không thành đùn đẩy, cải cách không dừng trên giấy và cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
Muốn vậy, điều hành tăng trưởng phải quyết liệt nhưng kỷ luật: mục tiêu có chỉ tiêu đo lường, chương trình có người chịu trách nhiệm, dự án có tiến độ cụ thể, điểm nghẽn có thời hạn xử lý; phân quyền phải đi đôi với kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình.
Trọng tâm hành động là giữ ổn định vĩ mô; cải cách thể chế, cắt giảm thủ tục; nâng hiệu quả đầu tư công; phát triển kinh tế tư nhân; lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực trung tâm; đồng thời phát triển thị trường vốn minh bạch, an toàn, hiệu quả để tạo nguồn lực dài hạn cho tăng trưởng.
Mục tiêu tăng trưởng 2 con số mở ra cho Việt Nam một cơ hội lịch sử, nhưng chỉ có thể thành hiện thực bằng hành động chiến lược, thể chế thông thoáng, chính sách ổn định, nguồn lực được khơi thông và năng lực thực thi đủ mạnh.
Vì vậy, tăng trưởng cao không chỉ là yêu cầu về tốc độ, mà còn là thước đo chất lượng cải cách, năng lực quản trị và bản lĩnh phát triển của đất nước trong giai đoạn mới./.