Các loại hình kinh tế mới: Không gian kiến tạo động lực tăng trưởng mới
Muốn tạo bước tăng trưởng 2 con số bền vững, nền kinh tế cần được mở rộng theo cả chiều rộng và chiều sâu, bằng việc phát triển các không gian tăng trưởng mới: kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế sáng tạo và các dịch vụ giá trị gia tăng cao. Đây là hướng đi quan trọng để kiến tạo thêm dư địa cho mô hình tăng trưởng mới.

Từ tăng trưởng tuyến tính đến yêu cầu kiến tạo không gian phát triển mới
Kinh tế Việt Nam năm 2025 đạt mức tăng trưởng tích cực. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2025 tăng 8,02%; quy mô GDP theo giá hiện hành ước đạt 12.847,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 514 tỷ USD; GDP bình quân đầu người đạt 125,5 triệu đồng, tương đương 5.026 USD.
Sang quý I-2026, GDP ước tăng 7,83% so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,92%, khu vực dịch vụ tăng 8,18%.
Đây là mức tăng tích cực, nhưng cũng cho thấy khoảng cách từ tăng trưởng cao một chữ số đến tăng trưởng hai con số vẫn là đáng kể, và muốn đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số đòi hỏi không chỉ nỗ lực điều hành, mà còn phải kiến tạo thêm động lực và dư địa phát triển mới.
Nếu nền kinh tế chỉ mở rộng theo đường tuyến tính - tức là tiếp tục tăng thêm vốn, thêm lao động, thêm dự án, thêm sản lượng theo những phương thức quen thuộc thì quy mô có thể tăng lên, nhưng “khối phát triển” chưa đủ lớn để tạo bước nhảy về năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh.
Muốn đạt tăng trưởng 2 con số, nền kinh tế không chỉ cần mở rộng chiều ngang, mà còn phải phát triển theo chiều sâu: tăng hàm lượng công nghệ, nâng năng suất nhân tố tổng hợp, khai thác dữ liệu, đổi mới mô hình kinh doanh, phát triển dịch vụ giá trị cao, sử dụng hiệu quả hơn tài nguyên và tạo giá trị gia tăng lớn hơn trên cùng một đơn vị đầu vào…
Vì vậy, cần phát triển các loại hình kinh tế mới. Các loại hình này không thay thế ngay các động lực truyền thống, nhưng có thể làm mới các động lực truyền thống.
Kinh tế số làm cho thương mại, sản xuất, tài chính, logistics, quản trị công vận hành nhanh hơn, minh bạch hơn, chi phí thấp hơn. Kinh tế dữ liệu biến dữ liệu thành tư liệu sản xuất mới. Kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn nâng hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lượng, vật liệu và chất thải.
Kinh tế sáng tạo và dịch vụ hiện đại mở rộng khả năng tạo giá trị từ văn hóa, tri thức, thiết kế, thương hiệu, công nghệ, du lịch, giáo dục, y tế, tài chính và đô thị…
Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội.
Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP; đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%; tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40%.
Như vậy, phát triển các loại hình kinh tế mới không phải là nội dung phụ trợ, mà là yêu cầu trực tiếp của đổi mới mô hình tăng trưởng. Nếu các động lực truyền thống tạo nền móng thì các loại hình kinh tế mới mở thêm không gian, chiều sâu và khả năng để kiến tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.
Muốn tăng trưởng 2con số, nền kinh tế không thể chỉ “đi nhanh hơn” trên con đường cũ, mà phải “mở thêm đường mới”, “nâng cấp phương thức phát triển” và “kiến tạo không gian tăng trưởng mới”.
Các loại hình kinh tế mới - mở thêm dư địa cho tăng trưởng
Kinh tế số, kinh tế dữ liệu là không gian tăng trưởng có khả năng lan tỏa rộng. Theo Cục Thống kê, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP Việt Nam tăng từ 12,87% năm 2021 lên 14,02% năm 2025.
Con số này cho thấy, kinh tế số đã trở thành một bộ phận đáng kể của nền kinh tế, song dư địa phát triển còn lớn nếu đặt trong tương quan với mục tiêu tối thiểu 30% GDP vào năm 2030.
Trong kinh tế số, thương mại điện tử là ví dụ rõ nét về khả năng mở rộng thị trường vượt khỏi giới hạn không gian vật lý. Theo Bộ Công Thương, năm 2024, quy mô thị trường thương mại điện tử Việt Nam vượt mốc 25 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2023, chiếm khoảng 9% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước.
Đây không chỉ là một kênh bán hàng mới, mà còn là sự thay đổi phương thức lưu thông hàng hóa, tiếp cận khách hàng, tổ chức logistics, thanh toán, quảng bá sản phẩm và xuất khẩu trực tuyến.
Giá trị lớn hơn của kinh tế số nằm ở số hóa sản xuất, dữ liệu hóa quản trị, phát triển trí tuệ nhân tạo (AI), tài chính số, logistics số và Chính phủ số.
Khi dữ liệu được kết nối, chuẩn hóa và khai thác an toàn, doanh nghiệp có thể hiểu thị trường nhanh hơn, tối ưu chuỗi cung ứng tốt hơn, giảm chi phí trung gian và nâng chất lượng dịch vụ; Nhà nước có thể nâng chất lượng dự báo, điều hành và cung cấp dịch vụ công. Đây là cách kinh tế số tạo thêm chiều sâu cho tăng trưởng, chứ không chỉ tạo thêm doanh thu.

Kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn mở ra không gian tăng trưởng gắn với phát triển bền vững. Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050 được phê duyệt theo Quyết định số 1658/QĐ-TTg, ngày 1-10-2021; Đề án Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam được phê duyệt theo Quyết định số 687/QĐ-TTg, ngày 7-6-2022.
Đây là các căn cứ chính sách quan trọng để chuyển các yêu cầu về xanh hóa, tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và tuần hoàn vật chất thành chương trình hành động cụ thể.
Kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn không nên được nhìn nhận đơn thuần như chi phí môi trường. Nếu được tổ chức tốt, đây là nguồn tạo giá trị mới. Nông nghiệp xanh giúp nâng chất lượng, thương hiệu và khả năng tiếp cận các thị trường tiêu chuẩn cao.
Công nghiệp tiết kiệm năng lượng giúp giảm chi phí sản xuất. Tái chế, tái sử dụng, xử lý chất thải, vật liệu mới, năng lượng sạch, giao thông xanh, đô thị xanh có thể hình thành ngành nghề mới, doanh nghiệp mới, việc làm mới và chuỗi giá trị mới.
Kinh tế sáng tạo, kinh tế di sản, kinh tế bạc và các dịch vụ giá trị gia tăng cao là không gian cần được quan tâm đúng mức. Trong mô hình tăng trưởng truyền thống, văn hóa, thiết kế, truyền thông, giải trí, du lịch, giáo dục, y tế, tài chính, tư vấn, dịch vụ chuyên môn thường được coi là khu vực bổ trợ.
Nhưng trong nền kinh tế hiện đại, đây là những lĩnh vực có khả năng tạo giá trị lớn nhờ tri thức, công nghệ, thương hiệu, trải nghiệm và sở hữu trí tuệ. Các ngành công nghiệp văn hóa là một ví dụ.
Theo Báo điện tử Chính phủ, năm 2015, nhóm ngành này chiếm 2,68% GDP; năm 2019 là 3,42%; giai đoạn 2018 - 2022 đóng góp ước đạt trên 4% GDP. Mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa cho thấy: văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội, mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực tăng trưởng và sức mạnh mềm quốc gia.
Kinh tế bạc, kinh tế đêm, kinh tế tầm thấp, kinh tế vũ trụ mở rộng không gian phát triển thông qua việc khai thác các tiềm năng về thời gian hoạt động kinh tế, về không gian hoạt động kinh tế và độ dài của đời sống kinh tế xã hội.
Chẳng hạn, với kinh tế bạc, thị trường toàn cầu cho các sản phẩm này, trị giá 18,5 tỷ USD vào năm 2022, dự kiến sẽ có mức tăng trưởng trung bình hàng năm là 6,5%, dự kiến đạt 30,6 tỷ USD vào năm 2030.
Kinh tế ban đêm được nhấn mạnh như một bộ phận hợp thành trong nền kinh tế tổng thể, đóng góp vào tăng trưởng, góp phần phát triển kinh tế, tạo việc làm, thu nhập cho người lao động và tận dụng tối đa các tài nguyên, nguồn lực tại chỗ để thu hút khách du lịch, tạo động lực mới cho sự phát triển xã hội.
Lợi ích của kinh tế ban đêm là thu hút khách du lịch và tạo điểm nhấn, màu sắc cho từng địa phương, vùng, miền. Về kinh tế tầm thấp, loại hình kinh tế này đang được tập trung khai thác. Trung Quốc coi loại hình kinh tế này là một cực tăng trưởng. Với kinh tế vũ trụ, đây là việc vươn lên, vươn xa của nền kinh tế.
Điểm chung của các loại hình kinh tế mới là chúng không chỉ “cộng thêm” một vài ngành vào cơ cấu kinh tế, mà làm thay đổi phương thức tạo ra giá trị.
Kinh tế số làm mới thương mại, tài chính, công nghiệp và quản trị. Kinh tế xanh làm mới sản xuất, tiêu dùng, năng lượng, đô thị và nông nghiệp. Kinh tế tuần hoàn làm mới cách sử dụng tài nguyên.
Kinh tế sáng tạo làm mới giá trị của sản phẩm và dịch vụ. Chính sự cộng hưởng đó tạo ra một “khối tăng trưởng” lớn hơn so với việc chỉ kéo dài các động lực truyền thống theo đường tuyến tính.
Để các không gian kinh tế mới trở thành động lực thực chất
Một là, cần kiến tạo thể chế cho những mô hình mới. Nhiều mô hình kinh tế mới phát triển nhanh hơn tốc độ hoàn thiện pháp luật. Kinh tế nền tảng, dữ liệu, AI, tài sản số, tài chính số, kinh tế chia sẻ, thương mại điện tử xuyên biên giới, kinh tế tuần hoàn đều đặt ra yêu cầu quản lý mới.
Nếu quản lý theo tư duy cũ, quá thiên về tiền kiểm, dễ rơi vào tình trạng “không quản được thì cấm”, làm mất cơ hội đổi mới. Nhưng nếu buông lỏng, có thể phát sinh rủi ro về an ninh dữ liệu, độc quyền nền tảng, gian lận thương mại, thất thu thuế, xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng và cạnh tranh không lành mạnh.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải có một thể chế vừa khuyến khích đổi mới sáng tạo, vừa bảo đảm kỷ cương phát triển. Nghị quyết số 57-NQ/TW nhấn mạnh thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, trong đó thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước...
Hai là, cần kiến tạo hạ tầng cho không gian tăng trưởng mới. Kinh tế số cần hạ tầng số, dữ liệu, điện toán đám mây, an ninh mạng, định danh số, thanh toán số và nền tảng kết nối. Kinh tế xanh cần hạ tầng năng lượng sạch, giao thông xanh, logistics hiện đại, hệ thống đo lường phát thải, xử lý chất thải, tái chế và thị trường carbon.
Kinh tế sáng tạo cần không gian sáng tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo, cơ chế bảo vệ sở hữu trí tuệ, hệ sinh thái khởi nghiệp và thị trường cho sản phẩm sáng tạo. Đây là những điều kiện để các loại hình kinh tế mới không phát triển tự phát, manh mún, mà trở thành cấu phần bền vững của mô hình tăng trưởng.
Đồng thời, các loại hình kinh tế mới đòi hỏi nguồn nhân lực có kỹ năng riêng: kinh tế số cần nhân lực về dữ liệu, AI, an ninh mạng, thương mại điện tử, thiết kế sản phẩm số, logistics số. Kinh tế xanh cần nhân lực về năng lượng, môi trường, vật liệu, nông nghiệp bền vững, kiểm kê phát thải.
Kinh tế sáng tạo cần nhân lực am hiểu văn hóa, thiết kế, công nghệ, truyền thông, quản trị thương hiệu và sở hữu trí tuệ. Nếu thiếu nhân lực phù hợp, các mô hình mới có thể tăng nhanh về hình thức nhưng khó tạo chiều sâu về năng suất và giá trị gia tăng.
Ba là, cần kiến tạo năng lực mới cho doanh nghiệp, đặc biệt khu vực kinh tế tư nhân. Nếu doanh nghiệp Việt Nam chỉ dừng ở gia công, thương mại đơn giản, quản trị thủ công, ít đầu tư nghiên cứu - phát triển (R&D), ít ứng dụng công nghệ, thì các loại hình kinh tế mới có thể phát triển, nhưng phần giá trị cao lại thuộc về khu vực khác.
Do đó, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, tham gia thương mại điện tử, đáp ứng tiêu chuẩn xanh, quản trị dữ liệu và nâng năng lực cạnh tranh là điều kiện quan trọng để kinh tế mới trở thành động lực của chính nền kinh tế Việt Nam.
Bốn là, cần kiến tạo năng lực đo lường và quản trị mới. Khi các loại hình kinh tế mới ngày càng phát triển, hệ thống thống kê, đánh giá và giám sát chính sách cũng phải đổi mới. Không đo lường được thì khó quản lý; đo lường không đúng thì khó có chính sách đúng.
Việc Cục Thống kê công bố tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP là bước quan trọng, cần tiếp tục được mở rộng để phản ánh đầy đủ hơn đóng góp của các mô hình mới vào năng suất, việc làm, thu ngân sách, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Cùng với đó, hợp tác quốc tế cần được thúc đẩy để tiếp nhận tri thức, công nghệ, mô hình quản trị và mở rộng thị trường cho các sản phẩm, dịch vụ mới của Việt Nam./.