Từ nghệ thuật nghi binh trong Chiến dịch Tây Nguyên đến kinh nghiệm trong bối cảnh chiến tranh thông tin và trí tuệ nhân tạo hiện nay
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc ta đã đi vào tâm thức, tinh thần người Việt về một giai đoạn trường kỳ kháng chiến gian khổ, nhiều mất mát, hy sinh nhưng đầy tự hào với bản lĩnh, trí tuệ, ý chí kiên cường của quân và dân ta. Trong chặng đường hào hùng ấy, riêng nghệ thuật quân sự độc đáo của quân đội ta không thể không nhắc đến nghệ thuật “nghi binh” trong chiến dịch Tây Nguyên năm 1975.

Buôn Ma Thuột (Tây Nguyên) - vùng chiến lược quyết định mọi hướng tiến công chủ lực
Trải qua hơn 20 năm chiến đấu (giai đoạn 1954 - 1975) anh dũng và kiên cường, dân tộc ta đã chiến thắng vang dội cuộc xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ cùng chính quyền tay sai. So với những cuộc chiến khác, đây là cuộc đối đầu với quy mô lớn nhất, dài ngày nhất, ác liệt và dã man nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, ảnh hưởng rộng lớn trên phạm vi quốc tế và mang tính thời đại sâu sắc.
Sự thất bại của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam là tất yếu khách quan, trước cuộc đọ sức với tư duy sắc sảo và trí tuệ sáng suốt của Đảng ta. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết (năm 1973), Kế hoạch chiến lược 2 năm (1975 - 1976) giải phóng miền Nam được chuẩn bị kỹ lưỡng, bắt đầu bằng trận đánh vào “yếu huyệt” - ngày 10-3-1975 vào thị xã Buôn Ma Thuột.
Chiến thắng ngày 10-3-1975 trong Chiến dịch Tây Nguyên tạo nên tình thế chiến lược bất ngờ, mở ra khả năng đánh bại kẻ thù bằng kết hợp 2 đòn tiến công và nổi dậy trong thời gian ngắn, giải phóng miền Nam, dẫn đến thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nước vào ngày 30-4-1975 lịch sử.
Chiến dịch Tây Nguyên chính là chiến lược mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, làm rúng động, tan rã thế trận, trực tiếp dẫn đến sự suy sụp của lực lượng địch và tạo thuận lợi cho những chiến dịch tiến công kế tiếp của ta để đi đến thắng lợi cuối cùng.
Cũng trong chiến dịch này, nghệ thuật nghi binh được ta sử dụng rất hiệu quả, khiến lực lượng địch rơi vào ma trận địa bàn, tâm lý chiến, là nguyên nhân sau đó chúng phải chịu thất bại nhanh chóng.
Bố trí lực lượng bất ngờ, tạo ma trận giả nhằm ghìm địch ở hai đầu Nam - Bắc, phá vỡ thế phòng ngự Tây Nguyên của địch
Trong năm 1975, hướng chiến lược của bộ đội chủ lực được phía ta lựa chọn là chiến trường vùng Tây Nguyên (nơi ta tiến hành Chiến dịch Tây Nguyên với điểm đột phá là trận tiến công địch ở thị xã Buôn Ma Thuột), mở đầu cho toàn bộ Chiến dịch giải phóng miền Nam.
Với mục đích tạo dựng thế thuận lợi nhất cho ta, đồng thời phá vỡ thế mạnh của địch, lừa địch vào ma trận chiến trường ta phân bổ sẵn, Quân ủy Trung ương quyết định tăng cường Quân đoàn 2 và Quân đoàn 4 bố trí trên 2 địa bàn chiến lược quan trọng là Huế - Đà Nẵng và Đông Bắc Sài Gòn.
Chính hành động này khiến đối phương phải phân tán lực lượng, bố trí Sư đoàn Lính thủy đánh bộ tăng cường bảo vệ vùng đệm của Sài Gòn và Sư đoàn dù giữ Đà Nẵng - địa bàn bố trí khu liên hợp quân sự mạnh nhất của địch.
Như vậy, từ điểm nhìn này có thể khẳng định, “hình thế dàn trận chiến lược kìm địch ở Sài Gòn và Huế - Đà Nẵng cũng là một hành động nghi binh chiến lược cho đòn Tây Nguyên - Buôn Ma Thuột”([1]).
Cùng thời điểm này, Bộ Tổng Tư lệnh còn chỉ đạo nhiều lực lượng vũ trang tích cực đánh địch, dụ địch trên các chiến trường khác, như Trị - Thiên, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long nhằm mục đích buộc địch cùng lúc phải căng mình chống đỡ trên nhiều vùng chiến thuật, phần nào để hở quãng giữa khu vực miền Trung - Tây Nguyên, phân tán lực lượng tổng trù bị chiến lược của địch. Chiến thuật này cũng khiến chúng khó đoán định, lầm tưởng về hướng tiến công chiến lược chủ yếu của quân ta.
Nghi binh nhằm lừa địch, chia cắt, cô lập lực lượng địch
Về cơ bản, điều kiện then chốt để phát động tiến công nhanh chóng và giải phóng Buôn Ma Thuột là quân ta phải kìm chân được Sư đoàn 23 của Ngụy đóng quân ở đây.
Thời điểm này, tại chiến trường Tây Nguyên, khâu chuẩn bị cho trận đánh Buôn Ma Thuột diễn ra trong bí mật, khẩn trương, để tạo thế nghi binh trên tinh thần chỉ đạo của Đại tướng Văn Tiến Dũng rằng “phải nghi binh rất nhiều để làm cho địch tập trung sự chú ý vào việc bảo vệ phía Bắc Tây Nguyên”([2]).
Ta sử dụng Sư đoàn 3, Trung đoàn 95A, Trung đoàn 25 cùng bộ đội địa phương thực hiện đánh cắt giao thông trên các trục đường huyết mạch (19, 21, 12) nhằm chia cắt địch với vùng đồng bằng ven biển, cũng như với các lực lượng của địch ở Bắc Tây Nguyên và Nam Tây Nguyên.
Đồng thời, phía ta bí mật tăng cường cho mặt trận Tây Nguyên thêm 2 sư đoàn, 1 trung đoàn và một số lực lượng binh chủng của Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Đây là yếu tố tạo nên bất ngờ lớn đối với địch, góp phần lừa địch trong trận đột phá vào Buôn Ma Thuột.
Lúc này, tổng số quân chủ lực của ta ở Tây Nguyên gồm 5 sư đoàn bộ binh (10, 320, 316, 968, 3); 4 trung đoàn pháo binh độc lập; 2 trung đoàn pháo binh; 3 trung đoàn pháo phòng không; 1 trung đoàn tăng - thiết giáp; 2 trung đoàn công binh.
Việc ta bí mật điều động các lực lượng lên Tây Nguyên đã đột ngột thay đổi tương quan lực lượng hai phía, địch dần chuyển lực lượng lên phía Bbắc trong khi ta cơ động lực lượng xuống hướng Nam, tạo nên lực lượng mạnh cho Chiến dịch Tây Nguyên.

Đòn “tâm lý chiến” quyết định toàn cục chiến dịch, đánh sập tinh thần, ý chí chiến đấu quân địch
Theo “Kế hoạch tác chiến B”, các Sư đoàn 10, 320 cùng Trung đoàn 95, Trung đoàn đặc công 198 được chỉ đạo bắn vào các mặt trận Kon Tum, La Sơn, Thanh An và thực hiện các lần đánh nhỏ quanh thị xã, các tốp xe của địch trên đường 19 phía Đông Pleiku, tập kích kho xăng Pleiku,… để thu hút sự chú ý của địch.
Cùng lúc đó, Sư đoàn 968 được bí mật di chuyển từ Nam Lào về Tây Nguyên thay vị trí của 2 sư đoàn 10, 320 để hành quân vào Đắk Lắk. Tuy nhiên, 2 sư đoàn trên vẫn để lại toàn bộ cụm điện đài và duy trì, tiếp tục phát đi các bức điện “báo cáo tình hình như thường lệ” hằng ngày.
Thời điểm này, bên cạnh duy trì nhiệm vụ nghi binh lừa địch của các Sư đoàn 10, 320, Sư đoàn 968 tăng cường cử cán bộ trinh sát, bắt giữ tù binh và đánh diệt các chốt địch bên ngoài thị xã Pleiku, thậm chí có cả pháo lớn tham gia, khiến chúng nghĩ rằng 2 sư đoàn 10, 320 vẫn chưa di chuyển…
Có thể nói, các hoạt động nghi binh rầm rộ của ta khiến địch lầm tưởng hướng tiến công của ta sẽ vào Kon Tum hoặc Pleiku và “gần như chúng loại trừ khả năng Buôn Ma Thuột bị tiến công khỏi kế hoạch tác chiến trong năm 1972 của Quân khu 2 ngụy”[3].
Bên cạnh đó, những thông tin được phía ta tung ra trái ngược nhau làm cho tướng địch Phạm Văn Phú (Tư lệnh Quân đoàn II của Việt Nam Cộng hòa) hoang mang, không biết nên tin và tin tình báo nào([4]).
Sau khi suy xét kỹ những hành động của ta ở Bắc Tây Nguyên, địch tin chắc rằng ta sẽ đánh Pleiku nên dồn toàn lực đưa quân tiếp viện và phải đến khi xe tăng ta tiến vào Buôn Ma Thuột (4 giờ sáng ngày 10-3-1975), viên tướng Phạm Văn Phú mới biết Buôn Ma Thuột là mục tiêu chính của ta thì đã quá muộn.
Thiệt hại tối thiểu - hiệu quả tối đa, chiến công hiển hách của bậc thầy mưu lược, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Chiến dịch Tây Nguyên còn là màn đấu trí căng thẳng, đỉnh cao giữa Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (lúc này là Tư lệnh Chiến dịch Giải phóng Tây Nguyên) và viên tướng được xem là có tài của Việt Nam Cộng hòa Phạm Văn Phú.
Không như tướng Phú tính toán, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đã không chọn đánh Pleiku trước (đại bản doanh của Bộ Tư lệnh Quân đoàn II Việt Nam Cộng hòa) mà bí mật sắp xếp quân số để đánh thẳng vào Buôn Ma Thuột (đại bản doanh của Sư đoàn 23 Việt Nam Cộng hòa), mở màn cho chiến dịch Tây Nguyên.
Theo phân tích của Thượng tướng, nếu đánh Kon Tum thì không phát triển được, đánh Pleiku thì địch còn mạnh và bảo đảm chắc thắng cho Chiến dịch Tây Nguyên, nhất định phải đánh Buôn Ma Thuột trước - nơi lực lượng địch yếu và nhiều sơ hở phòng bị.
Như vậy, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đã tổ chức đánh tướng Phú đúng phương châm tác chiến mà ông theo đuổi trong đời binh nghiệp: “Mưu cao nhất là mưu lừa địch / Kế hay nhất là kế điều địch/ Thế tốt nhất là thế chia cắt địch/ Thời đẹp nhất là lúc địch ít phòng bị/ Mưu sinh ra kế - thế đẻ ra thời/ Ðánh bằng mưu kế - thắng bằng thế thời”.
Thất bại tại Buôn Ma Thuột và sau này là toàn địa bàn Tây Nguyên chính là nguyên nhân lớn khiến tướng Phạm Văn Phú hổ thẹn, suy sụp tinh thần và tự sát không lâu sau đó.
Như vậy, trong Chiến dịch Tây Nguyên, ta tiến hành giai đoạn nghi binh đầy sáng tạo, công phu, bài bản với nhiều biện pháp linh hoạt, như giả đánh, tung tin thất thiệt, điều động lực lượng úp mở,… khiến địch hoang mang, phán đoán thiếu chính xác, lầm tưởng ý định, hướng tiến công chủ lực của quân ta, từ đó không thể đối phó kịp ở trận đánh Buôn Ma Thuột.
Việc chi viện của địch cũng không thể diễn ra bởi đã bị quân ta kìm hãm, trói chặt ở Bắc Tây Nguyên trước đó, khiến địch rơi vào tình thế hiểm, khó tránh khỏi thất bại mặc dù trong tay vẫn còn nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại và được tình báo Mỹ hỗ trợ.
Có thể nói, nghệ thuật nghi binh lừa địch là yếu tố quan trọng giúp quân ta giành được chiến thắng toàn diện trong Chiến dịch Tây Nguyên trong khi giảm thiểu tối đa thương vong, hy sinh. Tuy nhiên, đây cũng là phương thức khiến ta phải dùng nhiều phương kế, tâm lực, trí tuệ.

Kinh nghiệm trong bối cảnh chiến tranh thông tin và trí tuệ nhân tạo hiện nay
Từ thực tiễn Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975 có thể thấy, nghệ thuật nghi binh của quân đội ta không chỉ dừng lại ở các biện pháp chiến thuật đơn lẻ mà đã phát triển thành một hệ thống tư duy tác chiến mang tính cấu trúc, kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố quân sự, tâm lý và thông tin.
Nghi binh không đơn thuần là “giả” để đánh lừa, mà thực chất là quá trình tái cấu trúc nhận thức của đối phương, buộc địch phải ra quyết định sai lầm trong điều kiện thông tin mơ hồ; là một dạng “chiến tranh nhận thức” (cognitive warfare) ở trình độ cao, trong đó ta chủ động kiến tạo “thực tại giả” đủ sức thuyết phục để đối phương tin vào đó và hành động theo hướng có lợi cho ta.
Hiện trạng các cuộc xung đột quốc tế gần đây cho thấy, đối tượng tác chiến đã có nhiều thay đổi về tổ chức biên chế, trang bị, kế hoạch; sử dụng vũ khí ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) có tầm bắn xa, độ chính xác cao; tác chiến không gian mạng rộng khắp, tác chiến điện tử mạnh; phương thức tác chiến “phi tiếp xúc”, “phi đối xứng”,… hay các hình thái chiến tranh mới theo hướng đa không gian, đa lĩnh vực, đa thông tin,… được sử dụng phổ biến([5]).
Như vậy, khi yếu tố công nghệ và thông tin ngày càng chi phối mạnh mẽ, bản chất của chiến tranh đang có những chuyển biến sâu sắc từ “đối đầu vật chất” sang “đối đầu nhận thức”, những bài học từ nghệ thuật nghi binh trong Chiến dịch Tây Nguyên vẫn giữ nguyên giá trị, thậm chí còn mang ý nghĩa thời sự sâu sắc.
Thực tiễn cho thấy, nếu như trước đây nghi binh chủ yếu dựa vào việc điều động lực lượng, ngụy trang chiến trường và phát tín hiệu giả nhằm đánh lừa đối phương, thì trong điều kiện hiện đại, nghi binh đã được “số hóa” và diễn ra chủ yếu trong không gian mạng và môi trường truyền thông, không chỉ là “che giấu cái thật” mà còn là “tạo dựng cái giả đủ sức thay thế cái thật trong nhận thức của đối phương”.
Mặt khác, sự phát triển của AI đã làm thay đổi căn bản phương thức tiến hành nghi binh, như mô phỏng dữ liệu hay phân tích hành vi được sử dụng để xây dựng những “kịch bản giả” có độ tin cậy cao, làm gia tăng đáng kể hiệu quả của các hoạt động nghi binh, nhưng đồng thời cũng đặt ra thách thức lớn trong việc nhận diện, kiểm chứng và phòng chống thông tin sai lệch.
Trong môi trường đó, bên nào kiểm soát tốt hơn “không gian nhận thức” sẽ có lợi thế chiến lược, ngay cả khi chưa cần đến sự can thiệp của lực lượng quân sự truyền thống.
Theo đó, sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa nghệ thuật quân sự và công nghệ tiên tiến sẽ là yếu tố quyết định để bảo vệ Tổ quốc vững chắc trong điều kiện chiến tranh thông tin và AI ngày càng phát triển.
Theo các chuyên gia quân sự, một số bài học cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo trong bối cảnh mới là: 1- Coi trọng và chủ động kiểm soát “không gian nhận thức” như một mặt trận chiến lược đặc biệt quan trọng; 2- Kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố “thực” và “hư” trong tổ chức lực lượng và triển khai thông tin; 3- Phát huy vai trò của công nghệ, đặc biệt là AI, trong tổ chức và triển khai nghi binh hiện đại; 4- Nâng cao năng lực nhận diện, phòng chống và vô hiệu hóa các hoạt động nghi binh trong không gian mạng và truyền thông; 5- giữ vững vai trò lãnh đạo tập trung, thống nhất trong điều hành và xử lý thông tin chiến lược./.
[1] Xem: Hoàng Minh Thảo: “Nghệ thuật quân sự trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975”, trích trong cuốn: Đại thắng mùa Xuân 1975 - bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 123
[2] Xem: Văn Tiến Dũng: Đại thắng mùa Xuân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tr. 31
[3] Hoàng Minh Thảo: Bàn về Nghệ thuật quân sự, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr. 172
[4] Thời điểm tháng 2-1975, một chiến sĩ của ta đào ngũ khai với địch nhiều lực lượng của ta (sư đoàn 10, sư đoàn 320) đang chuẩn bị tiến đánh nhiều mặt trận quan trọng ở Đắk Lắk, đặc biệt là Buôn Ma Thuột; tuy vậy, tình báo Mỹ lại khẳng định các lực lượng này vẫn còn chỗ cũ…
[5] Xem: Trung tướng Đào Tuấn Anh: “Quân đoàn 34 với nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia trong tình hình mới”, Tạp chí Cộng sản, số 1.083 (tháng 4-2026), tr. 83