Bên lề sự kiện

Ấn Độ ứng phó với cú sốc dầu khí như thế nào?

Gia Ngọc

Cú sốc địa - chính trị xoay quanh chiến sự Mỹ - Iran đã biến rủi ro tuyến hàng hải thành cú sốc giá năng lượng và logistics lan rộng. Tuyến vận tải qua eo biển Hormuz tắc nghẽn, bảo hiểm chiến tranh và phụ phí logistics tăng vọt, giá dầu mỏ Brent biến động, tác động mạnh đến nhiều nền kinh tế, bao gồm cả Ấn Độ.

b13.jpg
Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi chủ trì cuộc họp ứng phó với tác động của xung đột Trung Đông, ngày 22-3-2026_Ảnh: ANI

Bên dưới bề mặt yên tĩnh tại các trạm xăng Delhi

Ấn Độ là nước phụ thuộc vào dầu thô nhập khẩu, với gần 90% nhu cầu dầu thô và 50% nhu cầu khí đốt. Reuters mô tả Ấn Độ là một trong các nền kinh tế dễ tổn thưởng nhất trước cú sốc dầu. Về tuyến đường, khoảng 40% dầu nhập vào Ấn Độ đi qua eo biển Hormuz.

Xung đột tại đây khiến nguồn cung trên thị trường quốc tế thiếu hụt: Reuters trích dữ liệu của Kepler và Vortexa cho thấy xuất khẩu dầu từ 8 nước vùng Vịnh giảm ít nhất 60% trong tuần 8 - 15-3, so với mức tháng 2.

Lượng tồn kho tại các bể chứa nổi ở vùng Vịnh tăng mạnh, rủi ro cao vì nằm trong khu vực có thể bị tấn công bởi tên lửa Iran. Trên thực tế, việc phong tỏa Hormuz khiến có thời điểm tới gần 30 tàu mang cờ Ấn Độ bị kẹt tại vùng Vịnh.

Trái ngược với biến động dữ dội trên thị trường dầu thế giới, các động thái từ Hormuz, kỳ vọng vào các kho dữ trữ chiến lược..., giá xăng bán lẻ tại Delhi hầu như không đổi trong những ngày qua, giữ ổn định ở mức 94,77 rupee/lít. Điều này phản ánh cơ chế điều hành giá của Ấn Độ: giá niêm yết có thể cập nhật hằng ngày, nhưng giá bán lẻ được kiểm soát chặt để giảm sốc lạm phát và bất ổn xã hội.

Để giữ được giá xăng bán lẻ ở Delhi, chính quyền Ấn Độ đồng thời thực thi nhiều giải pháp: ngày 8-3, chính phủ ban hành mệnh lệnh điều tiết và yêu cầu hệ thống lọc dầu tối đa hóa sản lượng khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG) để tránh đứt gãy nguồn cung khí đốt, thể hiện quan điểm điều hành ưu tiên theo mục tiêu xã hội.

Liên tiếp những ngày sau đó, Chính phủ Ấn Độ đưa khí đốt vào nhóm hàng hóa thiết yếu nhằm bảo vệ hoàn toàn nguồn cung, đưa ra lời kêu gọi người dân không “mua hoảng loạn” LPG trong khi thừa nhận nhập khí hóa lỏng có bị ảnh hưởng, và cho biết đa số nhà máy lọc dầu đang vận hành hết công suất.

Sản lượng LPG nội địa tăng 30% so với trước khi xảy ra tình huống. Thông điệp đưa ra là nước này có đủ nguồn cung xăng, diesel, khí đốt, nên phải chống đầu cơ.

Tuy nhiên, mặt trái của phương án điều hành giá với độ trễ truyền dẫn lớn là gánh nặng sẽ dồn vào quỹ bình ổn, thuế và doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu. Thực tế, người mua ở Ấn Độ vẫn có phản ứng với các thông tin chiến sự, dẫn tới tình trạng quá mua làm tăng cầu xăng dầu đột ngột, dù nguồn cung chưa đứt.

Căng thẳng vẫn leo thang ở Trung Đông với các vụ tấn công vào hạ tầng năng lượng, song song với tình hình khó khăn tài chính của các nhà bán lẻ trong nước do thua lỗ khi bị đóng băng giá xăng bán lẻ vẫn đang làm gia tăng sức ép lên thị trường xăng dầu Ấn Độ.

Giá bán lẻ thấp kết hợp với đồng rupee suy yếu khiến doanh nghiệp xăng dầu Ấn Độ thua lỗ. Doanh nghiệp nhà nước đang cố ứng phó bằng cách yêu cầu đại lý (trạm xăng) thanh toán trước, nhưng điều này dẫn tới rủi ro gián đoạn cục bộ nếu đại lý thiếu tiền mặt.

Các giải pháp ứng phó ngắn hạn

Mức dự trữ dầu thô (tồn kho thương mại) của Ấn Độ đủ cho 20 - 25 ngày nhu cầu. Con số này xác định “thời gian mua được bằng biện pháp hành chính” trước khi thị trường trực tiếp bị tác động.

Dự trữ chiến lược của Ấn Độ được cho là vào khoảng 1 tuần tiêu thụ, tuy nhiên các số liệu như mức tồn thực tế, tỷ lệ lấp đầy theo ngày trong điều kiện khủng hoảng không được công khai. Dù vậy, có thể hình dung ra thời gian Ấn Độ chống chịu được nếu thực sự xảy ra khủng hoảng nguồn cung xăng dầu.

Với yếu tố rủi ro Hormuz đã quá rõ, Ấn Độ đang cố gắng đa dạng hóa nguồn các nguồn cung, tăng tỷ trọng nguồn dầu “không qua eo biển Hormuz” lên 70% tổng nhập khẩu, theo lời Bộ trưởng Dầu khí Ấn Độ. Các nguồn được tìm đến là LPG từ Mỹ và Na Uy.

Các nhà máy lọc dầu quay sang mua gấp dầu từ Nga. Reuters nói rằng, doanh nghiệp quốc doanh Ấn Độ đã mua khoảng 20 triệu thùng dầu Nga từ thương nhân, chấp nhận giá cao hơn dầu Brent khoảng 4 - 5 USD/thùng.

Trên mặt trận ngoại giao, Ấn Độ “đối thoại” với Iran để tàu của mình đi qua Hormuz. Hai tàu chở LPG đã qua được tuyến này và dự kiến cập cảng miền Tây Ấn Độ, làm dịu phần nào lo lắng về nguồn cung. Đáng chú ý là Mỹ cấp một “miễn trừ 30 ngày” cho phép Ấn Độ mua dầu Nga đang mắc kẹt trên biển, cho thấy các nước đều ưu tiên ổn định nguồn cung toàn cầu.

Trong nước, các nhà máy lọc dầu Ấn Độ công bố đều đang vận hành ở mức cao, một số chạy trên 100% công suất. Hệ thống được chỉ đạo ưu tiên tối đa hóa LPG để bù đắp thiếu hụt, hy sinh lợi nhuận để phục vụ mục tiêu ổn định xã hội. Chính phủ bổ sung dầu hỏa cho các bang như một cách bình ổn sinh hoạt cho người dân, khi một số nguồn năng lượng sạch bị gián đoạn.

Sức ép lên nền kinh tế

Đối với Ấn Độ, rủi ro lớn nhất không nằm ở thiếu hụt xăng dầu ngay lập tức, mà nằm ở điểm yếu cấu trúc của một nền kinh tế nhập khẩu năng lượng: phụ thuộc nhập khẩu dầu thô cao, phụ thuộc LPG/LNG đáng kể.

Biến động từ thị trường xăng dầu sẽ truyền dẫn sang tỷ giá, lạm phát kỳ vọng, cán cân vãng lai và lợi nhuận doanh nghiệp, đặc biệt nhóm bán lẻ nhiên liệu khi giá bị kìm giữ để tránh cú sốc xã hội.

Ngay cả khi Ấn Độ đa dạng hóa nguồn nhập khẩu xăng dầu, hàng hóa vẫn phải đi qua một chuỗi logistics bị định giá rủi ro cao: bảo hiểm hàng hải tăng, theo ghi nhận của Reuters, từ 0,25% lên tới 3% với bảo hiểm thân tàu, khiến chi phí chuyến đi với các tàu lớn tăng hàng triệu USD. Nhiều hãng vận tải như Hapag-Lloyd hay Maersk áp phụ phí chiến tranh và điều chỉnh vận hành.

Giá dầu cao gián tiếp làm giảm giá đồng rupee xuống mức thấp kỷ lục so với USD, khuếch đại cú sốc năng lượng. Dù Bộ trưởng Tài chính Ấn Độ trấn an rằng lạm phát sẽ không tăng vọt ngay, tuy nhiên các tính toán cho thấy nếu giá dầu tăng 10%, lạm phát có thể tăng 30 điểm cơ bản. Trên thị trường chứng khoán, cổ phiếu của doanh nghiệp năng lượng bị áp lực bởi bóng đen dầu.

Lựa chọn chính sách của Ấn Độ

Điểm nổi bật trong giải pháp của Ấn Độ đến lúc này là “quản trị hành vi”: chống bán lẻ nhiên liệu vào can/thùng, chống đầu cơ và sử dụng LPG sai mục đích, không để xảy ra hết hàng tại trạm bán lẻ, ưu tiên phân phối hộ gia đình.

Nhìn chung, đây là kiểu điều hành để bảo đảm an sinh trong khủng hoảng. Các biện pháp như đơn giản hóa thủ tục hải quan hay ngoại giao hàng hải hầu hết cũng tập trung xử lý tình huống trong ngắn hạn. Nhưng triển vọng trong ngắn hạn (vài tuần tới) vẫn còn phụ thuộc vào tình hình eo biển Hormuz, sự lan rộng các vụ tấn công vào hạ tầng năng lượng ở Trung Đông.

Gói chính sách được lựa chọn của Ấn Độ, ngoài mục tiêu ổn định vĩ mô, ổn định xã hội, còn cần cân bằng để giảm tổn thất tài khóa và tổn thất của doanh nghiệp. Giá bán lẻ xăng dầu sẽ không thể kìm giữ quá lâu, mà cần được nới lỏng từng bước nhỏ.

Kho dự trữ phải được sử dụng có điều kiện và được truyền thông rõ ràng. Các biện pháp an ninh logistics, giảm thiệt hại cho doanh nghiệp cần thực thi nhất quán.

Việc đa dạng hóa nguồn cung dầu, “phi Hormuz” là bước đi chiến thuật phù hợp, nhưng kéo theo chi phí vận chuyển tăng. Điều này buộc doanh nghiệp Ấn Độ phải phòng hộ rủi ro, đa dạng hợp đồng và tăng sự linh hoạt.

Ngân hàng Trung ương Ấn Độ cần có thông điệp chính sách tiền tệ tập trung chống kỳ vọng lạm phát kèm ổn định thanh khoản ngoại tệ nếu cần, để hỗ trợ quản trị rủi ro tỷ giá cho doanh nghiệp nhập khẩu trong bối cảnh đồng rupee yếu.

Không dễ dàng để nền kinh tế phụ thuộc nặng vào nhập khẩu dầu có thể chủ động trong một thị trường biến động quá mạnh. Thực tế ở Ấn Độ cho thấy lựa chọn tốt nhất nên là một gói chính sách cân bằng./.

Gia Ngọc