Lãng phí chính sách: Rào cản vô hình trên con đường tiến vào kỷ nguyên phát triển mới

Bùi Sỹ Lợi - TS, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội 31/03/2026 07:38

Lãng phí chính sách là một rào cản vô hình nhưng rất đáng lo ngại đối với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Khi chính sách được thiết kế và tổ chức thực hiện không hiệu quả, nguồn lực tài chính, thời gian và cơ hội phát triển bị thất thoát, tiến trình cải cách kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường bị chậm lại.

loi-loi.jpg
Đường dây 500kV mạch 3 Quảng Trạch - Phố Nối: Công trình của ý Đảng, lòng Dân_Ảnh: nhandan.vn
loi-1.jpg
Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu chủ trì cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tại Trụ sở Trung ương Đảng, ngày 18-3-2026_Ảnh: TTXVN

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập ngày càng sâu rộng, nhận diện và khắc phục lãng phí chính sách trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm tạo dựng nền tảng phát triển bền vững và bảo đảm ổn định lâu dài cho tương lai.

Lãng phí chính sách và hệ quả của lãng phí chính sách

Lãng phí chính sách được hiểu là tình trạng một chính sách công được ban hành nhưng không mang lại hiệu quả như kỳ vọng, gây tốn kém nguồn lực (tài chính, thời gian, nhân lực...) mà không đạt được mục tiêu đề ra, hoặc hiệu quả đạt được quá thấp so với chi phí bỏ ra.

Nói cách khác, lãng phí chính sách là sự thất thoát nguồn lực xuất phát từ quá trình xây dựng, ban hành hoặc tổ chức thực hiện chính sách không hợp lý, không phù hợp với thực tiễn hoặc thiếu tính khả thi; thậm chí có thể gây tổn hại về nguồn lực, thời gian, cơ hội phát triển và niềm tin xã hội.

Hệ quả của lãng phí chính sách là làm gia tăng lãng phí nguồn lực công, tạo gánh nặng lên ngân sách và toàn xã hội. Khi một chính sách được ban hành nhưng không hiệu quả, không được thực thi hoặc triển khai dàn trải, nguồn lực ngân sách (tài chính, nhân lực, thời gian) bị tiêu hao mà không mang lại giá trị tương xứng.

Điều này tạo ra chi phí cơ hội lớn, bởi các nguồn lực thất thoát đó lẽ ra có thể được sử dụng cho những lĩnh vực thiết yếu như y tế, giáo dục, hạ tầng. Trong nhiều trường hợp, Nhà nước phải vay mượn hoặc tăng thu ngân sách để bù đắp, làm gia tăng nợ công và tạo thêm áp lực lên người dân, doanh nghiệp.

Lãng phí chính sách còn làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với chính quyền. Khi người dân chứng kiến các chính sách thay đổi liên tục, không hiệu quả hoặc được ban hành một cách hình thức, họ dễ nghi ngại về năng lực hoạch định và quản trị công; giảm niềm tin vào tính minh bạch và trách nhiệm giải trình, dẫn đến tâm lý thờ ơ chính trị, thiếu hợp tác trong triển khai các chính sách tiếp theo. Đây là yếu tố có thể kéo dài tình trạng trì trệ và kìm hãm sự phát triển chung.

Lãng phí chính sách cũng tạo ra môi trường thiếu ổn định đối với doanh nghiệp và nhà đầu tư, khiến họ e ngại trong việc mở rộng sản xuất - kinh doanh. Nguồn lực bị tiêu hao vào các chính sách kém hiệu quả làm cản trở những cải cách có tính chiến lược; đồng thời dẫn đến nguy cơ lặp lại sai lầm do thiếu đánh giá nghiêm túc, thiếu cơ chế tổng kết, rút kinh nghiệm.

Bên cạnh đó, lãng phí chính sách có thể làm gia tăng bất bình đẳng và chênh lệch vùng miền. Khi chính sách không được thiết kế hợp lý hoặc triển khai không hiệu quả, lợi ích thường chỉ tập trung vào một nhóm đối tượng nhất định, dẫn tới phân bổ nguồn lực thiếu công bằng; làm sâu sắc thêm bất bình đẳng xã hội, vùng miền, giới, dân tộc... Tình trạng này dễ làm trầm trọng hơn xung đột lợi ích và suy giảm mức độ gắn kết xã hội, từ đó ảnh hưởng tiêu cực tới động lực cải cách và đổi mới.

Đáng lo ngại hơn, khi các chính sách liên tục thất bại hoặc không đạt hiệu quả, đội ngũ cán bộ, công chức dễ mất động lực đổi mới; lựa chọn cách làm an toàn, hình thức thay vì chủ động, sáng tạo. Điều này khiến môi trường chính sách trở nên bảo thủ, trì trệ, làm chậm quá trình phát triển của đất nước.

loi-4.jpg
Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng, ngày 10-12-2025_Ảnh: quochoi.vn

Thực trạng lãng phí chính sách và căn nguyên sâu xa

Thực trạng lãng phí chính sách

Trong tiến trình phát triển đất nước, chính sách công là công cụ thiết yếu của Nhà nước nhằm điều tiết xã hội, thúc đẩy tiến bộ và bảo đảm công bằng. Một chính sách được thiết kế tốt có thể làm thay đổi diện mạo một địa phương, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy không ít chính sách dù được đầu tư lớn về nguồn lực nhưng không mang lại hiệu quả như kỳ vọng. Khi đó, không chỉ là sự lãng phí về vật chất, mà nghiêm trọng hơn là sự thất thoát niềm tin - yếu tố khó khôi phục nhất.

Hiện tượng lãng phí chính sách đang trở thành vấn đề đáng lo ngại trong công tác quản lý và phát triển ở nước ta. Đây là dạng lãng phí ở cấp độ thể chế - nơi mỗi sai lầm không chỉ được đo bằng con số, mà còn bằng những cơ hội phát triển bị bỏ lỡ và sự suy giảm niềm tin của nhân dân vào bộ máy công quyền.

Một trong những ví dụ điển hình là Chương trình 135 - một chính sách lớn nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội đối với các xã đặc biệt khó khăn. Qua nhiều năm triển khai, hàng nghìn công trình hạ tầng, như nhà văn hóa, đường giao thông, cầu dân sinh đã được xây dựng. Tuy nhiên, theo nhiều báo cáo của Kiểm toán nhà nước, không ít công trình rơi vào tình trạng bỏ hoang, xuống cấp hoặc không thể sử dụng.

Tại một số địa bàn Tây Nguyên và Tây Bắc, người dân phản ánh nhà văn hóa không có người quản lý, đường giao thông mới xây dựng đã hư hỏng, hoặc các chương trình đào tạo nghề không phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

Như vậy, ngân sách vẫn được phân bổ, công trình vẫn được hình thành, nhưng giá trị mang lại gần như không đáng kể. Đây là một biểu hiện rõ nét của lãng phí chính sách - nguồn lực được đầu tư nhưng không tạo ra hiệu quả thiết thực cho cộng đồng và sự phát triển bền vững của địa phương.

Đối với các chính sách, chế độ quy định về quản lý chương trình, Chính phủ và các bộ, ngành liên quan đã xây dựng và ban hành một hệ thống cơ chế, chính sách tương đối đầy đủ, quy định rõ việc tổ chức thực hiện đối với từng dự án thành phần. Tuy nhiên, trong các văn bản này vẫn còn những nội dung cần được tiếp tục xem xét.

Cụ thể, việc xác định đối tượng đầu tư của các dự án thành phần thuộc Chương trình 135 còn có sự trùng lặp. Ngoài các công trình hạ tầng do dự án đầu tư, một số hạng mục tương tự còn được triển khai từ dự án quy hoạch, sắp xếp lại dân cư. Điều này dẫn đến tình trạng đầu tư kết cấu hạ tầng bị trùng lắp, không đúng mục tiêu thiết kế ban đầu của dự án, gây thất thoát nguồn lực và tạo ra lãng phí trong quá trình thực hiện.

Việc quy định nội dung đầu tư giữa các chương trình mục tiêu quốc gia cũng còn tình trạng trùng lặp. Chẳng hạn, Chương trình kiên cố hóa trường, lớp học và Chương trình 135 đều có đối tượng đầu tư là các cơ sở giáo dục; Chương trình 168 và Chương trình 135 đều bao gồm các dự án cấp điện.

Điều này dẫn tới việc lựa chọn đối tượng đầu tư của các chương trình trong nhiều trường hợp bị trùng nhau, buộc phải điều chỉnh kế hoạch và chuyển vốn sang các công trình khác. Hệ quả là phải lập và phê duyệt lại thủ tục đầu tư, làm chậm tiến độ triển khai dự án và ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân của chương trình.

Tình trạng trùng lặp này cũng gây khó khăn cho việc đánh giá hiệu quả đầu tư của từng chương trình, cũng như việc đánh giá mức độ hiệu quả của hoạt động lồng ghép các chương trình trên cùng một địa bàn[1].

Nguyên nhân của lãng phí chính sách

Về nguyên nhân của hiện tượng lãng phí chính sách, Tổng Bí thư Tô Lâm đã phân tích và chỉ rõ nhiều dạng thức lãng phí đang nổi lên gay gắt hiện nay. Một trong những nguyên nhân trọng yếu là chất lượng xây dựng và hoàn thiện pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đổi mới, dẫn đến khó khăn, cản trở trong quá trình thực thi, gây thất thoát và lãng phí các nguồn lực.

Tổng Bí thư nhấn mạnh rằng trong ba “điểm nghẽn” lớn hiện nay gồm thể chế, hạ tầng và nhân lực, thì thể chế là “điểm nghẽn của các điểm nghẽn”, tác động trực tiếp đến hiệu quả quản trị và phát triển[2].

Nhiều chính sách hiện nay vẫn được xây dựng theo hướng “từ trên xuống”, chưa coi trọng việc lắng nghe tiếng nói của người dân - những đối tượng trực tiếp thụ hưởng chính sách. Việc thiếu cơ sở thực tiễn hoặc nghiên cứu chưa đầy đủ dẫn tới chính sách chưa phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tế. Không ít chính sách được ban hành chưa sát với tình hình cụ thể, gây khó khăn cho khâu tổ chức thực hiện, làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý.

Bên cạnh đó, thiết kế chính sách còn có biểu hiện mơ hồ, thiếu cụ thể, dẫn đến lúng túng trong quá trình thực thi. Một bộ phận cán bộ, cá nhân tham gia xây dựng chính sách, pháp luật thiếu công tâm, khách quan, khiến một số văn bản quy phạm pháp luật chưa phản ánh đầy đủ lợi ích chung mà chịu tác động của lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm.

Tình trạng chồng chéo, trùng lặp giữa các chính sách vẫn diễn ra, gây tốn kém nguồn lực và làm giảm hiệu quả đầu tư công. Công tác giám sát, đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách còn hạn chế, dẫn đến việc một số chính sách dù kém hiệu quả vẫn được duy trì mà không có điều chỉnh cần thiết.

Bên cạnh đó, tình trạng thiên lệch lợi ích, ưu tiên một nhóm đối tượng, bỏ qua lợi ích chung cũng là nguyên nhân làm suy giảm hiệu lực, hiệu quả của chính sách và gây lãng phí nguồn lực xã hội.

Quan điểm và giải pháp phòng chống lãng phí chính sách

Quan điểm về phòng chống lãng phí trong xây dựng chính sách

Ngày 9-11-2022, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”.

Nghị quyết chỉ đạo: “Xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, ổn định, khả thi, dễ tiếp cận, đủ khả năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, tổ chức, doanh nghiệp làm trung tâm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật trên tất cả các lĩnh vực, tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc, khơi dậy, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững của đất nước”[3].

Ngày 25-12-2023, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 27-CT/TW “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”. Trong đó, Bộ Chính trị nhận định: “Nhận thức về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí chưa sâu sắc, đầy đủ; có lúc, có nơi tổ chức chưa tốt, chấp hành chưa nghiêm; một số cơ quan, đơn vị, địa phương, một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa gương mẫu trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí... Công tác vận động, tuyên truyền cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân thực hành tiết kiệm, chống lãng phí chưa được quan tâm đúng mức”[4].

Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ ra: “Một số dạng thức của lãng phí đang nổi lên gay gắt hiện nay, đó là: chất lượng xây dựng, hoàn thiện pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn công cuộc đổi mới, dẫn đến khó khăn, cản trở việc thực thi, gây thất thoát, lãng phí các nguồn lực; lãng phí thời gian, công sức của doanh nghiệp, cá nhân khi thủ tục hành chính rườm rà, dịch vụ công trực tuyến chưa thuận tiện và thông suốt...”[5].

Cùng với đó, trong bài phát biểu trước Quốc hội, Tổng Bí thư cũng thẳng thắn chỉ rõ: “Trong ba điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thể chế, hạ tầng và nhân lực thì thể chế là điểm nghẽn của các điểm nghẽn; chất lượng xây dựng, hoàn thiện pháp luật chưa đáp ứng nhu cầu của thực tiễn; một số luật mới ban hành đã phải sửa đổi; các quy định chưa thực sự đồng bộ, còn chồng chéo; nhiều quy định gây khó khăn, cản trở việc thực thi, dẫn tới thất thoát, lãng phí các nguồn lực; chưa tạo môi trường thực sự thuận lợi để thu hút các nguồn lực của nhà đầu tư trong và ngoài nước, khơi thông nguồn lực trong nhân dân”[6].

Kết hợp với quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ và giải pháp của Trung ương, Bộ Chính trị, trong bài viết của mình, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “... Chuyển đổi tư duy xây dựng pháp luật theo hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, vừa khuyến khích sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực để phát triển; tư duy quản lý không cứng nhắc, dứt khoát từ bỏ tư duy ‘không quản được thì cấm”[7]...

Xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật phải bám sát thực tiễn, đứng trên mảnh đất thực tiễn Việt Nam để xây dựng các quy định pháp luật phù hợp; vừa làm vừa rút kinh nghiệm, không nóng vội nhưng không cầu toàn để mất thời cơ; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, chủ thể.

Thường xuyên đánh giá hiệu quả, chất lượng chính sách sau ban hành để kịp thời điều chỉnh những bất cập, mâu thuẫn, giảm thiểu thất thoát, lãng phí nguồn lực; chủ động phát hiện và tháo gỡ nhanh nhất những điểm nghẽn xuất phát từ quy định pháp luật.

Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền với phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Cải cách triệt để thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân và doanh nghiệp.

Nghị quyết số 98/NQ-CP của Chính phủ: Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Chỉ thị số 27-CT/TW, ngày 25-12-2023, của Bộ Chính trị “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”; Quyết định số 1764/QĐ-TTg, ngày 31-12-2023, của Thủ tướng Chính phủ “Về việc ban hành Chương trình tổng thể của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2024” và Công điện số 125/CĐ-TTg, ngày 1-12-2024, của Thủ tướng Chính phủ “Về việc đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”.

Trực tiếp liên quan là Quyết định số 1764/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ “Về việc ban hành Chương trình tổng thể của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2024”, trong đó nêu rõ: “Đề xuất sửa đổi các luật, văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; sửa đổi theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm đồng bộ, thống nhất hệ thống pháp luật, khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, nâng cao hiệu quả việc quản lý, sử dụng các nguồn lực nhà nước (nhân lực, vật lực, tài lực...)”[8].

info-to-lam-1.jpg
Đồ họa: T.H

Giải pháp phòng chống lãng phí trong xây dựng chính sách

Trong bài viết “Chống lãng phí”, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh hai giải pháp cần được thực hiện ngay, đó là: “hoàn thiện thể chế phòng, chống lãng phí và đổi mới mạnh mẽ công tác xây dựng, hoàn thiện và thực thi pháp luật, coi đây là yếu tố quan trọng để phòng, chống lãng phí”.

Kế thừa những kết quả đã đạt được và tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống lãng phí trong quá trình xây dựng chính sách, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới, cần tập trung thực hiện một số giải pháp căn cơ và toàn diện sau:

Trước hết, đổi mới mạnh mẽ và nâng cao chất lượng công tác xây dựng chính sách, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, chủ thể; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, khơi thông nguồn lực, giải quyết và khắc phục các điểm nghẽn, mở rộng không gian và tạo đà cho phát triển.

Việc nâng cao chất lượng xây dựng chính sách phải dựa trên khảo sát thực tiễn, tham vấn chuyên gia và lấy ý kiến người dân. Mỗi chính sách cần được đánh giá tác động kinh tế - xã hội một cách kỹ lưỡng trước khi ban hành.

Thứ hai, thường xuyên đánh giá hiệu quả và chất lượng của chính sách sau ban hành để kịp thời điều chỉnh các bất cập, mâu thuẫn; giảm tối đa thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ của người dân, doanh nghiệp; phòng, chống bệnh quan liêu; đồng thời giảm thiểu thất thoát, lãng phí các nguồn lực.

Sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật theo hướng tăng các quy định mang tính định lượng (tiêu chuẩn, định mức, chế độ, chính sách cụ thể), tăng cường tính công khai, minh bạch (trừ các quy định liên quan đến bảo vệ bí mật nhà nước), loại trừ việc cài cắm lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm.

Đặc biệt, cần quy định rõ chủ thể chịu trách nhiệm, để khi xảy ra lãng phí có cơ sở xem xét trách nhiệm cá nhân; đồng thời quy định đầy đủ các vấn đề có nguy cơ dẫn đến lãng phí kèm theo những biện pháp phòng ngừa ngay trong luật, hạn chế tối đa việc giao cho Chính phủ hoặc các chủ thể khác ban hành văn bản dưới luật.

Thứ ba, thực hiện tốt chức năng giám sát mang tính quyền lực của cơ quan dân cử. Trong đó, tăng cường năng lực giám sát của các cơ quan của Quốc hội đối với việc ban hành văn bản của các chủ thể được luật, pháp lệnh, nghị quyết giao; khắc phục triệt để tình trạng nợ đọng văn bản hướng dẫn thi hành và áp dụng các chế tài nghiêm khắc đối với trường hợp ban hành văn bản hướng dẫn chậm so với thời hạn quy định.

Tăng cường hoạt động giải trình của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội khi tự mình phát hiện hoặc khi tiếp nhận thông tin từ báo cáo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri; từ phản ánh của báo chí và dư luận xã hội về các vụ việc có dấu hiệu gây lãng phí lớn.

Thứ tư, tăng cường năng lực điều chỉnh chính sách, hiểu là khả năng (kiến thức, kỹ năng và thái độ) của đội ngũ cán bộ, công chức trong việc tham mưu, đề xuất điều chỉnh các giải pháp, biện pháp và cơ chế nhằm bảo đảm chính sách được thực thi hiệu quả nhưng không làm thay đổi mục tiêu đã đặt ra.

Trong quá trình tổ chức thực hiện, nếu chính sách gặp khó khăn do môi trường thực tiễn thay đổi hoặc do chính sách còn tồn tại bất cập, hạn chế chưa phù hợp, cần chủ động có những điều chỉnh cần thiết để đáp ứng yêu cầu quản lý và phù hợp với tình hình thực tế.

Thứ năm, hoàn thiện thể chế trong ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số, tạo sự đồng bộ trong quá trình chuyển đổi số nhằm giảm thiểu lãng phí và hình thành nền tảng để Việt Nam nắm bắt các cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Thường xuyên rà soát, sửa đổi kịp thời những quy định không còn phù hợp; tạo hành lang pháp lý cho các mô hình kinh tế mới, như kinh tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn, trí tuệ nhân tạo,... bảo đảm hệ thống pháp luật không trở thành rào cản đối với sự phát triển, đồng thời bảo đảm an ninh quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp.

Thứ sáu, tăng cường trao quyền giám sát và phản biện xã hội cho người dân, các tổ chức xã hội và cơ quan báo chí, bởi đây là những lực lượng có khả năng kiểm chứng hiệu quả chính sách một cách trực tiếp và rõ ràng nhất.

Lãng phí chính sách là vấn đề không thể xem nhẹ. Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, mỗi đồng ngân sách đều quý giá và mỗi chính sách đều mang theo trọng trách cải thiện đời sống nhân dân. Hơn lúc nào hết, đội ngũ cán bộ làm chính sách cần có tâm và tầm; mỗi công dân cần ý thức rõ vai trò giám sát và phản biện của mình.

Khi chính sách được thiết kế dựa trên thực tiễn, thực hiện minh bạch và kiểm soát chặt chẽ, tình trạng lãng phí sẽ từng bước được đẩy lùi, thay vào đó là niềm tin và động lực phát triển bền vững cho toàn xã hội./.


[1] Lê Đình Thăng: “Thấy gì qua kết quả Kiểm toán chương trình 135”, Cổng thông tin điện tử kiểm toán nhà nước, ngày 25-3-2009.

[2] Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại phiên khai mạc của Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV.

[3] Xem: Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Nghi-quyet-27-NQ-TW-2022-tiep-tuc-xay-dung-Nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-giai-doan-moi-541092.aspx.

[4] Xem: Chỉ thị số 27-CT/TW, ngày 25-12-2023, của Bộ Chính trị “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”, Hệ thống Tư liệu - Văn kiện Đảng.

[5] Xem: Bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về chống lãng phí, Cổng Thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam, ngày 13-10-2024.

[6] Xem: Bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về chống lãng phí, Cổng Thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam, ngày 13-10-2024.

[7] Xem: Bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về chống lãng phí, Tlđd.

[8] Xem: Quyết định số 1764/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Về việc ban hành Chương trình tổng thể của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2024, Cổng thông tin điện tử Chính phủ.

Bùi Sỹ Lợi - TS, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội