Kinh tế và Hội nhập

Kiến tạo mô hình phát triển nhanh, bền vững và bao trùm trong giai đoạn bản lề sau Đại hội XIV của Đảng

Nguyễn Lê Đình Quý 11/03/2026 10:15

Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đặt đất nước trước một bài toán phát triển không còn cho phép đi theo quán tính: mô hình tăng trưởng cũ dựa nhiều vào vốn, đất đai, lao động chi phí thấp đang chạm trần.

kt-1.jpg
Chiến lược phát triển kinh tế số, công nghệ cao của Việt Nam ngày càng thu hút đầu tư nước ngoài chất lượng cao_Ảnh: thanhnien.vn

Trong khi chu kỳ công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (big data), tự động hóa và chu kỳ tiêu chuẩn mới về carbon. ESG (bộ ba tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị dùng để đo lường mức độ phát triển bền vững và tác động của doanh nghiệp đối với cộng đồng), truy xuất nguồn gốc đang tái định hình luật chơi toàn cầu

Nếu giai đoạn 2021 - 2025 là giai đoạn củng cố nền tảng, thì 2026 - 2030 là giai đoạn tăng tốc chiến lược: hoặc kịp chuyển trục sang tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo, thể chế hiện đại, hoặc chấp nhận bị khóa vào nấc thang giá trị thấp và đối mặt nguy cơ tụt hậu chiến lược.

Giai đoạn bản lề và yêu cầu chuyển trục mô hình tăng trưởng

Thực tiễn năm 2025 cho thấy Việt Nam đã tích lũy được năng lực đáng kể cho phát triển: quy mô GDP theo giá hiện hành ước đạt 12.847,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 514 tỷ USD; GDP bình quân đầu người khoảng 5.026 USD; năng suất lao động khoảng 9.809 USD/lao động.

Những con số này phản ánh thành tựu to lớn của đổi mới, đồng thời cũng báo hiệu một ngưỡng mới: khi nền kinh tế đã vượt mốc 500 tỷ USD, yêu cầu trọng tâm không còn là tăng thêm bằng mọi giá, mà là tăng trưởng có chất lượng, dựa trên năng suất và năng lực cạnh tranh cốt lõi.

Tuy nhiên, điểm then chốt của giai đoạn bản lề nằm ở chỗ: tăng trưởng theo chiều rộng đang giảm hiệu lực. Thời kỳ lợi thế chi phí đang co hẹp vì: (i) Tiền lương và chi phí tuân thủ tăng theo mức phát triển; (ii) Công nghệ thay thế lao động giản đơn; (iii) Các thị trường lớn chuyển từ ưu tiên rẻ sang ưu tiên xanh - sạch - truy xuất được.

Nếu không kịp xác lập mô hình mới, Việt Nam sẽ gặp nghịch lý: quy mô lớn lên nhưng giá trị gia tăng nội địa thấp, vị thế tham gia chuỗi cung ứng vẫn thiên về lắp ráp, khó đạt các mục tiêu 2030 và tầm nhìn 2045.

Bởi vậy, mô hình phát triển mới phải trả lời trực diện câu hỏi: động lực tăng trưởng tương lai sẽ đến từ đâu, và bằng cơ chế nào để biến khát vọng thành năng lực thực thi? Nói cách khác, sau Đại hội XIV, tuyên ngôn mục tiêu phải đi cùng kiến trúc chính sách và kỷ luật thực thi tương xứng.

Những giới hạn hiện hữu và nguy cơ tụt hậu chiến lược

Nguy cơ mắc kẹt thu nhập trung bình không xuất hiện như một cú sốc, mà như một quá trình mòn dần động lực. Khi tăng trưởng vẫn dựa nhiều vào đầu tư mở rộng, nền kinh tế dễ rơi vào vòng xoáy đầu tư nhiều nhưng hiệu quả giảm, năng suất tăng chậm, trong khi cạnh tranh quốc tế ngày càng dựa vào công nghệ lõi và sở hữu trí tuệ. Trong chu kỳ công nghệ AI, khoảng cách không còn được đo bằng bao nhiêu nhà máy, mà bằng bao nhiêu năng lực thiết kế, thuật toán, dữ liệu và chuẩn hóa.

Song song với đó, sự phụ thuộc vào công nghệ và nền tảng bên ngoài trở thành rủi ro chiến lược. Kinh tế số Việt Nam tăng nhanh; tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP năm 2025 ước đạt 14,02%, tương đương 72,1 tỷ USD.

Tuy nhiên, nếu lõi công nghệ, hạ tầng dữ liệu và các nền tảng số chủ yếu nằm ngoài khả năng làm chủ, phần giá trị lớn nhất của chuỗi dữ liệu, thuật toán và dịch vụ có thể chảy ra ngoài, đồng thời gia tăng rủi ro về an ninh dữ liệu và chủ quyền số.

Trong khi đó, các rào cản xanh và carbon đang chuyển hóa thành rào cản thị trường. Thương mại không còn chỉ là thuế quan, mà là một hệ tiêu chuẩn về phát thải, nguồn gốc, lao động và trách nhiệm xã hội.

Doanh nghiệp chậm chuyển đổi xanh sẽ phải chịu chi phí kép: vừa bị loại khỏi chuỗi cung ứng do không đạt chuẩn, vừa phải trả phí điều chỉnh lớn hơn nếu chuyển đổi muộn. Vì vậy, vấn đề không chỉ dừng ở bảo vệ môi trường, mà trực tiếp liên quan đến năng lực cạnh tranh và quyền tham gia thị trường.

Quá trình chuyển đổi công nghệ cũng có thể làm gia tăng phân hóa xã hội, từ đó suy giảm đồng thuận phát triển. Tự động hóa thay thế một phần việc làm giản đơn; AI tái phân phối lợi thế về phía nhóm có kỹ năng số, ngoại ngữ và tư duy phân tích.

Nếu thiếu chính sách đào tạo lại, nâng cao kỹ năng trên quy mô lớn và hệ thống an sinh chủ động, tăng trưởng có nguy cơ mất tính bao trùm, chi phí xã hội cuối cùng sẽ quay trở lại ăn mòn thành quả phát triển.

Tất cả những thách thức đó quy tụ vào một điểm nghẽn căn bản là thể chế. Mọi chiến lược sẽ khó thành hiện thực nếu còn tồn tại thủ tục phức tạp, chi phí tuân thủ cao, phân tán trách nhiệm và thiếu cơ chế khuyến khích đổi mới, bảo vệ người dám làm. Trong cạnh tranh thu hút vốn và nhân tài, chỉ cần chậm một nhịp cải cách thể chế cũng có thể khiến đất nước bỏ lỡ cả một chu kỳ cơ hội.

Vì vậy, nếu không chuyển đổi kịp thời, nguy cơ lớn nhất không đơn thuần là tăng trưởng thấp hơn kỳ vọng, mà là tụt lại trong trật tự phát triển mới, nơi năng lực cốt lõi quyết định vị thế quốc gia.

kt-2.jpg
Các trụ turbine điện gió ở Đầm Nại, Phan Rang, tỉnh Khánh Hòa_Ảnh: thanhnien.vn

Giải pháp chiến lược đột phá thể chế và tái cấu trúc động lực tăng trưởng

Chuyển đổi mô hình phát triển giai đoạn 2026 - 2030 không thể dừng ở những định hướng khái quát, mà phải được cụ thể hóa bằng cải cách thể chế thực chất và tái cấu trúc toàn diện động lực tăng trưởng. Trọng tâm của chuyển đổi là hình thành một cấu trúc động lực mới, trong đó năng suất, đổi mới sáng tạo và chất lượng quản trị trở thành nguồn tăng trưởng chủ yếu, thay thế dần mô hình dựa trên mở rộng vốn và khai thác lợi thế chi phí.

Điểm khởi đầu mang tính quyết định là đột phá thể chế. Trong cạnh tranh toàn cầu về vốn, công nghệ và nhân tài, lợi thế không chỉ nằm ở quy mô thị trường mà ở mức độ minh bạch, ổn định và khả năng dự báo của chính sách.

Vì vậy, cải cách phải hướng tới xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển, tinh gọn thủ tục, giảm chi phí tuân thủ, bảo đảm quyền tài sản và thiết lập cơ chế khuyến khích đầu tư dài hạn. Khi rủi ro thể chế được kiểm soát và kỷ luật thực thi được củng cố, doanh nghiệp mới có đủ niềm tin để đầu tư vào công nghệ, đổi mới quy trình và nâng cao năng suất thay vì tìm kiếm lợi thế ngắn hạn.

Trên nền tảng đó, động lực tăng trưởng cần được tái cấu trúc theo hướng lấy đổi mới sáng tạo làm trung tâm. Chính sách khoa học và công nghệ phải chuyển từ dàn trải sang tập trung, ưu tiên các lĩnh vực có khả năng tạo bước nhảy vọt như công nghệ số, AI, năng lượng sạch và công nghiệp công nghệ cao.

Đồng thời, cần hình thành hệ sinh thái liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cơ sở nghiên cứu để rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường, biến tri thức thành giá trị thương mại và lợi thế cạnh tranh quốc gia.

Chuyển đổi xanh không nên được nhìn nhận như nghĩa vụ tuân thủ, mà phải trở thành chiến lược cạnh tranh dài hạn. Chủ động nâng chuẩn môi trường, phát triển năng lượng tái tạo, áp dụng tiêu chí bền vững và chuẩn hóa truy xuất nguồn gốc sẽ giúp doanh nghiệp không chỉ duy trì mà còn nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Khi tiêu chuẩn xanh trở thành điều kiện gia nhập thị trường, quốc gia đi trước trong thích ứng sẽ nắm lợi thế định hình luật chơi.

Cùng với đó, bảo đảm tính bao trùm là điều kiện để chuyển đổi bền vững. Cải cách giáo dục, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng trên quy mô lớn phải được triển khai đồng bộ nhằm chuẩn bị lực lượng lao động cho môi trường công nghệ mới. Một xã hội có năng lực thích ứng cao sẽ giảm thiểu xung đột phân phối, củng cố đồng thuận và tạo nền tảng chính trị - xã hội vững chắc cho cải cách dài hạn.

Tựu trung, giai đoạn sau Đại hội XIV không chỉ là bước tiếp theo của tiến trình phát triển, mà là thời điểm định hình quỹ đạo dài hạn của nền kinh tế. Thành công của chuyển đổi 2026 - 2030 sẽ quyết định khả năng hiện thực hóa mục tiêu 2030 và tầm nhìn 2045 trong một trật tự phát triển mới, nơi năng lực nội sinh và chất lượng thể chế là thước đo vị thế quốc gia./.

Nguyễn Lê Đình Quý