Xung đột Iran và tham vọng tái cấu trúc quyền lực năng lượng của Mỹ
Không chỉ nhằm thay đổi chế độ ở Iran, cuộc không kích của Mỹ vào Iran còn nhắm tới mục tiêu tái cấu trúc quyền kiểm soát nguồn dầu lửa thế giới mà Washington đã ấp ủ, chiếm ưu thế trong cuộc tranh giành ảnh hưởng với Trung Quốc.

“Thùng dầu” Iran và “yết hầu” Hormuz
Cuộc xung đột giữa Mỹ và Iran đã ngay lập tức tác động đến giá dầu toàn cầu. Hôm 2-3, thị trường mở cửa sau khi Mỹ mở cuộc tấn công, giá dầu Brent đã tăng 10 - 13%, giao dịch ở mức 79 - 82 USD/thùng. Giá dầu WTI kỳ hạn cũng tăng khoảng 7 - 11%, lên mức 72 - 75 USD/thùng. Tại Mỹ, giá xăng bán lẻ dự kiến sẽ tăng lên trên 3 USD mỗi gallon ngay trong tuần này. Giá khí đốt ở châu Âu cũng tăng vọt thêm 20% - 25%, trong khi mức tăng ở Mỹ nhẹ hơn, chỉ khoảng 4%.
Thực tế thì ngay từ khi xung đột còn chưa nổ ra, trong phiên giao dịch hôm 27-2, giá dầu đã tăng vọt khi các nhà đầu tư trên sàn cảm thấy mùi thuốc súng trong khu vực sau tuyên bố của Tổng thống Mỹ Donald Trump rằng cơ hội đàm phán ngoại giao với Iran có thể sắp khép lại. Theo dự báo, nếu xung đột được kiểm soát, giá dầu có thể lên vùng 80 USD/thùng. Còn trong kịch bản xung đột kéo dài và ảnh hưởng đến nguồn cung, giá dầu hoàn toàn có thể tiến tới mốc 100 USD/thùng.
Xung đột Mỹ - Iran ngay lập tức tác động đến giá dầu toàn cầu bởi Iran được coi như “thùng dầu” của thế giới. Theo Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC), Iran là quốc gia có trữ lượng dầu mỏ lớn thứ ba thế giới, với 209 tỷ thùng. Còn số liệu của Cơ quan Thông tin năng lượng Mỹ (EIA) cho thấy đến cuối năm 2023, Iran đóng góp 24% dự trữ dầu mỏ của khu vực Trung Đông và 12% toàn cầu. Dầu mỏ được coi là huyết mạch của nền kinh tế Iran, đóng góp lớn cho ngân sách và dự trữ ngoại hối. Báo cáo của EIA cho thấy năm 2023, các hãng dầu của Iran thu về 53 tỷ USD nhờ xuất khẩu nhiên liệu.
Dù hoạt động khai thác hiện nay của Iran bị hạn chế do nhiều năm phải chịu lệnh trừng phạt quốc tế và không được đầu tư đúng mức, nhưng nước này vẫn là nhà sản xuất dầu lửa lớn thứ ba trong OPEC, với 3,3 triệu thùng dầu mỗi ngày, tương đương 3% nhu cầu toàn cầu. Các điểm khai thác dầu của Iran tập trung ở các tỉnh phía Tây Nam như Khuzestan. Các nhà máy lọc dầu của Iran có tổng công suất 2,6 triệu thùng mỗi ngày.
Ngoài dầu lửa, Iran còn sản xuất khí tự nhiên từ mỏ khí South Pars ngoài khơi. South Pars/North Dome là mỏ khí đốt lớn nhất thế giới, phần North Dome hiện do Qatar khai thác. Do các lệnh trừng phạt và hạn chế về kỹ thuật, phần lớn khí khai thác từ South Pars chỉ được dùng trong nước. Theo số liệu của Gas Exporting Countries Forum, tổng sản lượng khí đốt của Iran năm 2024 đạt 276 tỷ mét khối. Trong đó, 94% được tiêu thụ trong nước, phần còn lại xuất khẩu sang các nước láng giềng như Thổ Nhĩ Kỳ và Iraq.
Giới phân tích cho rằng nếu sản lượng dầu của Iran sụt giảm do xung đột ở Trung Đông lan rộng, Saudi Arabia và các thành viên khác trong OPEC có thể bù đắp bằng công suất dự phòng. Ngay ngày 1-3, OPEC và các đồng minh (OPEC+) đã thống nhất tăng sản xuất thêm 206.000 thùng mỗi ngày trong tháng 4. Tuy nhiên, công suất của nhóm này không còn nhiều dư địa, do OPEC+ đã tăng dần sản lượng trong gần 1 năm qua. Khả năng thiếu hụt nguồn cung là chắc chắn, khiến giá dầu lửa còn tăng.
Không chỉ là “thùng dầu” của thế giới, Iran còn kiểm soát eo biển Hormuz, nơi được coi là “yết hầu” của mạch năng lượng toàn cầu. Khi xung đột Mỹ - Iran bùng phát, mọi cặp mắt đều đổ dồn về Hormuz. Về mặt địa lý, Hormuz là eo biển hẹp trải dài 212km, nối Vịnh Ba Tư với vùng biển Arab rồi đổ ra Ấn Độ Dương. Tuyến đường này, nơi hẹp nhất chỉ rộng khoảng 55km ở vùng nước nông, các tàu bè chỉ có thể lưu thông trên 2 làn với chiều rộng mỗi bên là 3,2km.
Trong lịch sử, Hormuz giữ vai trò then chốt trong giao thương giữa Trung Đông, Nam Á và Đông Phi, kết nối Vịnh Ba Tư với Ấn Độ Dương. Nhưng chỉ khi dầu mỏ trở thành huyết mạch của nền kinh tế công nghiệp trong thế kỷ XX, vai trò của Hormuz mới thực sự bùng nổ. Ngày nay, lối đi chật hẹp này là nơi trung chuyển khối lượng hàng hóa khổng lồ. Mỗi ngày, có khoảng 20 - 21 triệu thùng dầu thô và sản phẩm tinh chế đi qua đây, tương đương với 20% - 30% tổng lượng dầu vận chuyển bằng đường biển toàn cầu.
Bên cạnh đó, khoảng 20% lượng khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) thế giới cũng được vận chuyển qua đây. Tất cả các cường quốc dầu lửa tại vùng Vịnh, từ Arab Saudi, Các Tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) đến Kuwait, Iran, Iraq, Qatar đều phụ thuộc vào Hormuz để đưa “vàng đen” đến các thị trường lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ... Qatar - một trong những nước xuất khẩu LNG lớn nhất thế giới - cũng vận chuyển gần như toàn bộ khí tự nhiên hóa lỏng qua tuyến đường này.
Dù có vị trí chiến lược quan trọng với thương mại toàn cầu nhưng lịch sử cho thấy tuyến hàng hải qua Hormuz thường xuyên là điểm nóng địa - chính trị, từ cuộc chiến tàu chở dầu Iran - Iraq hồi thập niên 80 của thế kỷ XX đến các vụ đe dọa phong tỏa và bắt giữ tàu trong những năm gần đây, khiến dòng chảy thương mại qua Hormuz bị ngưng trệ, kinh tế thế giới bị ảnh hưởng.
Với việc Mỹ mở cuộc tấn công Iran, lịch sử đang lặp lại. Iran đã tuyên bố đóng cửa eo biển Hormuz và cảnh báo sẽ thiêu rụi bất kỳ tàu thuyền nào tìm cách đi qua. Nhiều chủ tàu chở dầu, các tập đoàn dầu khí lớn đã phải tạm dừng vận chuyển dầu thô, nhiên liệu và LNG qua eo biển Hormuz vì lo ngại rủi ro. Theo Công ty môi giới tàu Poten & Partners, gián đoạn đang gia tăng nhanh. Hình ảnh vệ tinh từ các hệ thống theo dõi tàu cho thấy nhiều tàu đang dồn ứ gần các cảng lớn như Fujairah (UAE) và không di chuyển qua Hormuz. Hãng vận tải container Hapag-Lloyd của Đức thông báo dừng toàn bộ tàu có hành trình qua Hormuz cho đến khi có thông báo mới. CMA CGM của Pháp thì yêu cầu tàu trong hoặc hướng đến vùng Vịnh tìm nơi trú ẩn sau các cuộc tấn công.
Trong kịch bản bi quan nhất, các nhà phân tích dự báo, giá dầu có thể vọt lên khoảng 100 USD, thậm chí 140 USD mỗi thùng nếu tuyến hàng hải này bị phong tỏa kéo dài. Ông Bob McNally - cựu Cố vấn năng lượng Nhà Trắng và Chủ tịch Rapidan Energy Group - dự báo: “một đợt đóng cửa kéo dài ở eo Hormuz chắc chắn sẽ gây suy thoái toàn cầu”. Ông cho rằng các nước châu Á sẽ đổ xô tích trữ dầu khí, dẫn đến một cuộc chiến giá chưa từng có.

Mối liên hệ giữa dầu hỏa và chiến tranh
Xung đột Mỹ - Iran đang làm thị trường toàn cầu chao đảo. Là người khởi xướng động binh, hơn ai hết Mỹ hiểu rõ những tác động tiêu cực mà thế giới phải hứng chịu. Tuy nhiên, trong toan tính của Washington, phát động chiến dịch “Cơn thịnh nộ vĩ đại” là cơ hội thuận lợi để tái cấu trúc quyền lực năng lượng toàn cầu dưới sự kiểm soát của Mỹ, tạo lợi thế trong cuộc đối đầu với đối thủ cạnh tranh chiến lược Trung Quốc. Kiểm soát nguồn dầu lửa chiến lược sẽ quyết định liệu Washington có thể giành chiến thắng trong cuộc đối đầu thế kỷ này.
Xét về trữ lượng, 10 cường quốc dầu lửa thế giới được xếp theo thứ tự sau: Venezuela, Saudi Arabia, Iran, Canada, Iraq, Các tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE), Kuwait, Nga, Libya và Mỹ. Trong chiến lược kiểm soát nguồn dầu lửa, Washington tập trung vào 2 hướng. Thứ nhất, tự chủ và thúc đẩy sản xuất nội địa thông qua việc tăng cường khai thác dầu đá phiến để trở thành nhà sản xuất dầu lớn nhất thế giới, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu. Thứ hai, can thiệp địa - chính trị, tìm cách duy trì sự hiện diện và ảnh hưởng tại các vùng chiến lược như Trung Đông và khu vực Mỹ Latinh để bảo vệ lợi ích năng lượng.
Lâu nay, Mỹ duy trì quan hệ với các đồng minh vùng Vịnh giàu dầu lửa theo nguyên tắc “đổi dầu lấy an ninh”. Tại Saudi Arabia, Mỹ đặt 3 căn cứ quân sự ở Riyadh, Jeddah và Dhahran, với quân số khoảng 2.500 người. Ở UAE, Mỹ đóng 3.500 quân tại căn cứ không quân Al Dhafra và căn cứ hải quân Jebel Ali. Đất nước Kuwait nhỏ bé nhưng có tới 5 căn cứ quân sự của Mỹ, với 13.500 quân. Trong khi đó, 81,6% lượng dầu khai thác được của Canada - nước có trữ lượng dầu đứng thứ tư thế giới - được chuyển sang Mỹ, tương đương 4 triệu trong tổng số 4,9 triệu thùng dầu khai thác mỗi ngày.
Với các nước sản xuất dầu lửa lớn khác không thân thiện với Mỹ, Washington tìm cách trừng phạt, cô lập, thậm chí là can thiệp quân sự để từng bước kiểm soát. Iraq có trữ lượng dầu mỏ đứng thứ năm thế giới vốn không thân thiện với Mỹ và muốn bán dầu bằng đồng tiền khác để không phụ thuộc vào đồng USD thì năm 2003, Mỹ dựng lên vụ sở hữu vũ khí hóa học để lấy cớ can thiệp lật đổ chính quyền của Tổng thống Saddam Hussein.
Kịch bản tương tự cũng được lặp lại ở Libya, khi Mỹ tìm cách can thiệp, hậu thuẫn cho lực lượng đối lập lật đổ rồi giết hại Tổng thống Muammar Gaddafi, một nhân vật chống Mỹ, vào năm 2011. Gần đây nhất, Mỹ lại can thiệp vào Venezuela, nước có trữ lượng dầu mỏ đứng đầu thế giới nhưng giữ quan điểm đối đầu với Mỹ. Sau nhiều năm cấm vận khiến Venezuela gặp không ít khó khăn, đầu năm 2026, quân đội Mỹ bất ngờ tập kích bắt giữ Tổng thống Nicolas Maduro đưa về Mỹ xét xử tội buôn lậu ma túy, điều mà ông này bác bỏ. Nguồn dầu lửa của Venezuela nay chuyển sang nằm dưới sự kiểm soát của Mỹ và bắt đầu được bán trở lại bằng đồng USD.
Với Iran, mục tiêu can thiệp của Mỹ không chỉ dừng ở dầu lửa mà còn nhằm loại bỏ ảnh hưởng của Trung Quốc. Nhiều năm qua, các nhà máy lọc dầu tư nhân của Trung Quốc luôn là khách mua chính của dầu Iran. Trung Quốc mua tới hơn 50% lượng dầu thô xuất khẩu của Iran. Dù lượng dầu thô mà Trung Quốc mua của Iran đang giảm dần do lệnh cấm vận của Mỹ với Tehran nhưng theo con số thống kê, kể từ năm 2021 đến nay, tổng giá trị các giao dịch mua bán dầu giữa 2 nước đã vượt quá 140 tỷ USD. Nguồn thu này giúp Iran trụ vững trước lệnh cấm vận của Mỹ, trong khi Trung Quốc có được nguồn dầu giá rẻ nhờ mức chiết khấu lớn, tiết kiệm hàng tỷ USD mỗi năm so với các nhà cung cấp theo giá thị trường.
Thông qua dầu lửa, quan hệ Bắc Kinh - Tehran ngày càng thắt chặt. Năm 2021, Hiệp định Đối tác chiến lược toàn diện Trung Quốc - Iran với thời hạn 25 năm được ký kết. Theo đó, Bắc Kinh cam kết đầu tư khoảng 400 tỷ USD vào các lĩnh vực năng lượng, ngân hàng, viễn thông và cơ sở hạ tầng của Iran. Hành lang đường sắt vận chuyển hàng hóa kết nối thành phố Qom của Iran với thành phố Nghĩa Ô, Trung Quốc, cũng được xây dựng.
Tiếp đó, tại hội nghị thượng đỉnh lần thứ 21 của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) tại Tajikistan vào năm 2021, Iran đã gia nhập SCO. Việc này cho phép Nga và Trung Quốc thâm nhập vào Trung Đông. Một tuyến liên kết Á - Âu với Trung Quốc là trung tâm đang dần hình thành. Năm 2016, khi tiếp đón Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Đại giáo chủ Ayatollah Khamenei đã ca ngợi mối quan hệ đối tác chiến lược Trung Quốc - Iran “hoàn toàn đúng đắn và đầy trí tuệ”, đồng thời nhấn mạnh “các chính phủ phương Tây chưa bao giờ có thể giành được lòng tin của người dân Iran”.
Nếu sự can thiệp quân sự lần này có thể gây những biến động nội bộ ở Iran, dẫn đến thay đổi chế độ ở nước này theo hướng có lợi cho Mỹ, Washington sẽ đạt nhiều mục tiêu. Khi đó, ngoài Nga, 9/10 nước nhiều dầu mỏ nhất thế giới hiện chiếm tới 85% tổng lượng dầu của toàn thế giới sẽ nằm trong tầm kiểm soát của Mỹ. Dòng dầu lửa toàn cầu sẽ lại được điều tiết hoàn toàn bởi đồng USD. Ảnh hưởng của Trung Quốc và Nga ở Iran và khu vực Trung Đông sẽ bị suy giảm.
Lịch sử Trung Đông cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa dầu hỏa và chiến tranh. Ông Francis Perrin - Giám đốc nghiên cứu của Viện Quan hệ quốc tế và chiến lược IRIS của Pháp - thừa nhận: “dầu hỏa và chiến tranh luôn gắn liền với nhau lúc thì dầu hỏa là nguyên nhân dẫn đến chiến tranh, lúc thì đấy là một trong những lý do dẫn tới xung đột”. Thế giới ảo ngày nay thực ra rất cần những tài nguyên thực như dầu lửa - yếu tố quyết định trên bàn cờ năng lượng, và xung đột bùng phát ở Trung Đông là bằng chứng mới nhất cho nhận định đó./.