Phóng sự - Điều tra - Ghi chép

Từ “cánh cổng ký ức” đến nguồn lực văn hóa của đồng bào ở xa Tổ quốc

Phong Như 19/02/2026 08:28

Chiều muộn. Trên con đường cao tốc từ Tangier trở về Thủ đô Rabat (Morocco), chiếc xe đi chậm lại rẽ vào con đường làng trải nhựa phẳng lì ngập trong ánh hoàng hôn Bắc Phi đang trút xuống cánh đồng sau mùa gặt một màu vàng sẫm.

ps-5.jpg
Cờ Việt Nam và cờ Morocco tung bay tại Cổng Việt Nam_Ảnh: P.N

Chúng tôi đang trên đường đến Làng Việt Nam ở Morocco, một điểm dừng được ghi rõ trong lịch trình công tác, nhưng không ai nghĩ rằng, chuyến ghé thăm ấy lại trở thành một cuộc trở về, nơi ký ức lịch sử giữa 2 dân tộc Morocco và Việt Nam được mở ra, lặng lẽ bồi đắp mối quan hệ hữu nghị 2 nước, nuôi dưỡng một nguồn lực văn hóa kiều bào bền bỉ và sống động.

Từ câu chuyện cổng làng Việt Nam tại Morocco...

Từ xa, trước lối rẽ vào làng chừng 500m, 2 lá cờ hiện ra. Một cờ đỏ với ngôi sao vàng, một cờ đỏ với ngôi sao xanh. Hai nền đỏ, hai ngôi sao năm cánh song hành, phần phật trong gió chiều. Khoảnh khắc ấy, chúng tôi reo lên “làng kia rồi, làng kia rồi”. Có những hình ảnh, tự nó đã đủ để trở thành một câu trả lời.

Đón chúng tôi là chị Elghalia Nakhli - Chủ tịch Hội những người con Morocco - Việt Nam có tên Việt Nam là Tuyết. Cùng đi với chị là Hakima Rochi (tên Việt Nam là Kim), nói tiếng Việt tròn vành, rõ chữ, tự nhiên đến mức khiến người đối diện quên mất rằng mình đang ở Bắc Phi. Gặp các chị lần đầu nơi đất khách xa xôi, nhưng cuộc trò chuyện nhanh chóng trở nên thân tình, không hề có khoảng cách. Câu chuyện cứ thế mở ra, như thể chúng tôi đã quen nhau từ trước.

Dưới chân cổng Làng Việt Nam, với niềm tự hào hiện rõ, chị giới thiệu chiếc cổng như một dấu mốc tinh thần của cộng đồng. Không chỉ mang ý nghĩa chào đón, chiếc cổng còn nhắc nhớ về tình hữu nghị Việt Nam - Morocco và hành trình gắn bó của những con người đã đi qua lịch sử chung của 2 dân tộc. Với chị, cánh cổng ấy không chỉ mở ra một ngôi làng, mà còn mở ra một không gian ký ức - nơi người Việt tìm thấy sự kết nối với quê hương.

Dẫn chúng tôi đi xung quanh ngôi làng, các chị giới thiệu từng ngôi nhà, từng người chủ của các căn nhà ấy. Những khu vườn nhỏ, những luống rau, những hàng cây, những dáng nhà..., tất cả đều gợi lên cảm giác quen thuộc, thân thương. Không phải là sự sao chép hình thức của một làng quê Việt, ở đó là sự tiếp nối của nếp sống - thứ không cần biển chỉ dẫn vẫn nhận ra.

Khánh thành vào tháng 11-2022, Cổng Việt Nam tại làng Douar Sfari, ngoại ô thành phố Kénitra, được đúc bằng bê tông nguyên khối theo mô hình cổng làng truyền thống, với các đầu rồng, đầu đao và ngói ta được mang từ Việt Nam sang và các hoa văn chạm khắc trên đá do thợ thủ công vùng Taza của Morocco làm. Trên Cổng có 2 câu đối thể hiện tình cảm của các gia đình Morocco - Việt Nam: “Ơn quê cha Morocco, quyết phấn đấu vươn lên thành đạt/ Nhớ Việt Nam đất mẹ, nguyện xây tình hữu nghị thủy chung”.

Chúng tôi dừng chân ở nhà Kim. Ngôi nhà nhỏ nằm giữa khu vườn có những giống cây Việt Nam hiện diện như giềng, rau răm, rau muống, bưởi, lựu. Bên ấm trà chiều, câu chuyện ở nhà Kim bắt đầu từ người mẹ Việt Nam tên là Hợp đã mất.

Giọng đầy ký ức, Kim chia sẻ với chúng tôi về Việt Nam trong hình dung qua những hình ảnh mẹ miêu tả nơi sinh ra ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng; về những món ăn quê hương, về nỗi nhớ thường trực trong mẹ là bờ ao, góc vườn xập xòa các loại rau, là bát cơm trắng dẻo với bát canh cua, cà pháo.

Chị Tuyết xen vào, mẹ chị mất mà vẫn còn thèm rau muống. Khi bà mất, cả nhà chưa ai về Việt Nam, nên chưa có giống rau Việt để trồng, các bà chỉ có thể nhớ rau trong ký ức. Từ sau năm 2000, khi con cái có điều kiện về Việt Nam, hạt giống được mang sang và cùng với nó là cả một phần quê nhà.

Câu chuyện còn dẫn dắt chúng tôi đến những người phụ nữ thuộc thế hệ thứ nhất sang đây như bác Nhung, bác Chi, cô Hiền, bác Minh... Bác Minh không sống ngay trong làng mà ở cách đó khoảng 20km, cũng tại thành phố Kénitra.

Có thời gian, bà Minh bị bệnh không thể đi lại. Các con thương mẹ, mua một mảnh ruộng cách nhà khoảng 2km, dựng ngôi nhà nhỏ trồng các loại rau Việt Nam để bà thấy quê hương như ngay ở bên mình.

Khu vườn nhỏ mang đủ hương vị quê nhà ấy là liều thuốc tinh thần kỳ diệu, giúp bà từng bước vượt qua bệnh tật, đứng dậy, đi lại, tìm thấy niềm vui sống. Những dịp giáp tết, bà thường mời nhân viên, cán bộ của Đại sứ quán Việt Nam tại Morocco đến vườn cắt cải về muối dưa ăn tết.

Những câu chuyện của bà Minh, chị Kim, chị Tuyết, của những người phụ nữ Việt Nam nơi đây không chỉ là chuyện mưu sinh. Đó là câu chuyện giữ gìn gốc rễ cội nguồn trong những điều nhỏ nhất: bát dưa muối, luống rau, tiếng gọi con và cách sống tử tế với xóm giềng.

Câu chuyện còn khiến chúng tôi ngạc nhiên vì sinh ra ở Morocco, nhưng Kim nói tiếng Việt mạch lạc, tự nhiên, trôi chảy như thể đó là ngôn ngữ được dùng mỗi ngày. Hỏi ra mới biết, những người Việt thế hệ thứ nhất và thứ hai nơi đây vẫn giao tiếp, trò chuyện với nhau hằng ngày bằng tiếng Việt, coi đó như sợi dây giữ gia đình, nguồn cội.

Từ chính những người mẹ, từ đời sống gia đình và cộng đồng, chứ không phải từ sách vở hay lớp học nào, tiếng Việt đã ngấm vào và ở lại trong những người con lai giữa 2 dòng máu Việt Nam - Morocco một cách bền bỉ.

Chia tay Làng Việt Nam, Kim hái tặng chúng tôi một túi lựu chín cây, quả đỏ au, nặng trĩu, như gói ghém cả sự hào phóng của mảnh đất và tấm lòng người ở lại. Dù trời đã nhá nhem tối, đoàn chúng tôi vẫn lưu luyến nán lại chụp thêm vài tấm ảnh, giữ lấy những gương mặt, nụ cười và cả nếp sống hiền hòa đã thấm vào cuộc sống của bà con nơi đây. Một niềm vui lặng lẽ lan tỏa khi thấy cộng đồng người Việt ở Morocco hôm nay sống bình yên, gắn bó trong mạch sống cộng đồng kết nối giữa 2 nền văn hóa.

ps-5-2.jpg
Đoàn công tác chụp ảnh kỷ niệm cùng chị Tuyết (giữa) và chị Kim (quàng khăn) ở Cổng Việt Nam tại Morocco_Ảnh: P.N

... đến tầng sâu ký ức và cánh cửa tương lai

Những câu chuyện đời thường trong ngôi làng Việt Nam ấy đưa chúng tôi ngược dòng lịch sử, trở lại những năm Việt Nam kháng chiến chống thực dân Pháp, lý giải tại sao 7 gia đình có những người vợ, người mẹ là phụ nữ Việt Nam đã sống ở đây.

Những người phụ nữ thuộc thế hệ thứ nhất ở Làng Việt Nam là vợ của các cựu binh Morocco - những binh sĩ từng thuộc đội quân viễn chinh Pháp nhưng rời bỏ quân đội Pháp, quyết định đứng về phía cuộc chiến đấu chính nghĩa, ủng hộ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam trước năm 1954.

Tại Nông trường Việt Phi - Ba Vì (nơi họ tham gia lao động sản xuất để sinh sống, sau này còn gọi là làng Việt Phi), những người phụ nữ Việt Nam và các cựu binh Morocco gặp nhau, nên duyên vợ chồng, sống ở đó trong 10 năm trước khi chuyển lên Yên Bái cho đến ngày trở về Morocco năm 1972. Trong quãng thời gian sống tại đây, chính quyền, bộ đội và người dân Việt Nam đã giúp đỡ họ vật liệu, công sức để xây dựng nên cánh cổng mang đậm phong cách kiến trúc Morocco vào đầu thập niên 60 của thế kỷ XX.

Khi trở về Morocco, 7 gia đình trong số hơn 80 gia đình sau khi hồi hương được Vua Hassan II (cha của Vua Mohamed VI hiện nay) cấp đất thuộc xã Douar Sfari, huyện Ameur Seflia, ngoại ô thành phố Kenitra để làm ăn, sinh sống, lập nên Làng Việt Nam và trở thành nơi tập trung của cộng đồng người Việt tại Morocco mỗi dịp lễ tết.

Năm 2009, cổng Morocco được trùng tu lần đầu từ nguồn hỗ trợ của Đại sứ quán Morocco tại Việt Nam. Năm 2018, công trình được thành phố Hà Nội tu bổ và gắn thêm trên vòm cổng dòng chữ “Cổng Morocco” bằng tiếng Việt, tiếng Arab và tiếng Anh. Đại sứ Morocco tại Việt Nam khi đó là ông Azzeddine Ferhane đã khẳng định: cổng Morocco là một phần di sản lịch sử chung giữa Việt Nam và Morocco, mang thông điệp chống chiến tranh và ủng hộ hòa bình giữa các dân tộc trên toàn thế giới của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Theo Đại sứ Việt Nam tại Morocco Lê Kim Quy, những câu chuyện về cộng đồng người Việt nơi đây không thể tách rời lịch sử đặc biệt giữa Việt Nam và Morocco. Lịch sử ấy được khắc họa một phần qua cổng Morocco nay thuộc địa bàn xã Suối Hai, thành phố Hà Nội và được tiếp nối bằng cổng Việt Nam tại Morocco.

Nếu cổng Morocco ở Việt Nam mang trong nó ký ức của những binh sĩ Morocco đã coi Việt Nam là quê hương thứ hai, thì cổng Việt Nam tại Morocco hôm nay lại mở ra một chiều ngược lại của lịch sử - nơi cộng đồng người Việt nhắc nhớ, tri ân và gìn giữ ký ức chung ấy.

Từ Cổng Morocco ở xã Suối Hai đến cổng Việt Nam tại Morocco hôm nay, đó là hành trình của ký ức, lòng biết ơn và sự tiếp nối giữa các thế hệ. Với ý nghĩa đó, bà Quy nhấn mạnh, cổng Việt Nam là không gian ký ức để các thế hệ kiều bào sau này hiểu về cội nguồn, về mối quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa 2 dân tộc và tiếp tục bồi đắp bằng những kết nối bền lâu.

Ông Phạm Kim Tiến - trưởng thôn Việt Long - xã Suối Hai cho biết, cổng Morocco hằng năm vẫn đón không ít đoàn khách từ Morocco sang thăm, trong đó có cả những cựu binh năm xưa và con cháu của họ trở lại để tìm ký ức và gặp một phần đời mình từng gửi lại nơi đây.

Cùng nhìn về tương lai, từ góc nhìn của địa phương nơi cổng Morocco tọa lạc, ông Lê Hào Quang - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Suối Hai - cho rằng, việc gìn giữ và phát huy giá trị của cánh cổng này không chỉ là trách nhiệm với lịch sử, mà còn là cách tiếp nối một mạch kết nối đã được mở ra từ nhiều thập niên trước.

Theo ông Quang, khi cổng Việt Nam được dựng lên tại Morocco như một sự hồi đáp đầy trân trọng đối với quá khứ chung của 2 dân tộc, cổng Morocco hôm nay càng cần được bảo tồn và phát huy, để trở thành một không gian văn hóa sống, nơi ký ức lịch sử được kể lại cho các thế hệ sau.

Từ nền tảng ấy, xã Suối Hai định hướng, mong muốn mở rộng khuôn viên khu di tích, xây dựng các công trình phụ trợ như nhà trưng bày, không gian văn hóa, khu phục vụ du khách, để câu chuyện lịch sử của cánh cổng được kể một cách đầy đủ, sinh động và bền vững.

Xa hơn, địa phương kỳ vọng có thể tổ chức các hoạt động trải nghiệm văn hóa Việt Nam - Morocco, gắn với việc giới thiệu các sản phẩm đặc trưng của Suối Hai, qua đó đưa cổng trở thành một điểm đến có chiều sâu trong các tour du lịch văn hóa - lịch sử./.

Phong Như