Tết xứ người và những mạch ngầm rực rỡ
Tôi đã nhiều lần lang thang các quốc gia khác, dự tết của họ. Có khi tết của họ không trùng với tết của ta, vậy mà cảm giác vẫn xôn xao, vẫn trào dâng những mạch ngầm rực rỡ. Như tết ở Lào, Mông Cổ, hay Indonesia.

1. Tết ở Lào khiến người ta ấm lòng, không bị cái cảm giác ăn uống lu bù, chúc tụng qua quýt, tắc đường như nêm cối rồi lễ hội luộm thuộm kiểu kẹp tiền lẻ vào chân tay các ông tượng. Có lẽ vì miền đất Phật bao đời vẫn dịu dàng theo lời răn của Đức Phật, dân thưa, đất rộng mà còn nhiều hoang vắng.
Mỗi lần tôi sang, có khi đi từ Sơn La, có khi vượt từ đỉnh đèo ven cửa khẩu Tây Trang phía Điện Biên sang Phông Sa Lỳ. Lắm lúc đi từ Kỳ Sơn, Nghệ An sang với cư dân vùng Xiêng Khoảng. Bà con đổ ra đường, trên xe tuk tuk, trên xe bán tải, rồi cả xe bò và chạy bộ nữa, ai nấy mang theo bình nước, xô nước và cả súng bắn nước to đùng xanh đỏ như chiến binh.
Lúc đầu chúng tôi chờ xe tới, cứ nghĩ họ chừa “khách quốc tế” là mình ra. Ai ngờ, mấy cô bé đang áo xống vắt lên cành tre, tắm mỹ miều bên suối trong chiều muộn cũng bất thần xông ra. Họ té cho khách quý cùng ướt như chuột lột.
Dội cả xô nước vào đầu, bắn những tia nước mạnh đến rát bỏng từ súng nhựa. Được cái nước rất sạch. Lắm chàng nàng ướt lút thút, áo quần dính vào da thịt rất là gợi cảm, cầm thêm các ly bia ra chặn xe, mời mọc chân thành. Uống tuý luý.
Rồi bất ngờ ập cả xô nước vào xe, bôi thêm nhọ nồi vào mặt chúng tôi, như “lễ hội hóa trang”. Họ chặn xe, chẳng ai không thể dừng, họ mời quý hóa thế, chả ai nỡ từ chối. Thêm màn buộc chỉ cổ tay, khi mặt ai nấy đen nhẻm toàn nhọ nồi mới thú.
Khỏi phải nói, tôi vốn kĩ tính, lại đang trong hành trình cẩn thận đến từ cái tăm ngụm nước đi dọc ngang nước bạn Lào, máy móc thiết bị đắt tiền, tư trang đầy một xe, mà bị dội nước cho lõng bõng lút thút, thì bực mình phiền phức tới cỡ nào. Nhưng không hiểu sao, ai nấy đều thấy mình như đang gột rửa tâm hồn, để về với sự hồn nhiên và thương mến nhất.
Quả là một niềm tin đắm đuối vào điều may mắn của năm mới và gột rửa những rủi ro, buồn lo của năm cũ. Tết Lào Bun Pi May theo Phật lịch của Lào diễn ra vào tháng 4 dương lịch, tôi không hẹn mà tham dự nhiều lần, trong những hành trình đi dọc xứ Lào mê mải của mình. Tết cổ truyền của họ cũng như ở ta, chứa đầy niềm tin tâm linh và các lớp lang văn hóa. Nước là biểu tượng của sự thanh lọc, gột rửa.
Tôi nhận ra sự hồn nhiên, dịu dàng và các mạch ngầm nhân ái trong quan niệm sống của người nơi này. Khi họ đón tết trên sông Mê Kông, đôi bờ rợp cổ thụ phủ rêu mốc, thơm nồng, ấm sực với các chảo than đỏ nướng cá với hạt dổi, mắc khén và cách bọc cá trong lá tươi, khía dọc thân cá cho ngấm gia vị, y như người Thái ở Tây Bắc Việt Nam.
Ở Phôn Sa Vẳn, bên Cánh đồng Chum 3.000 năm tuổi, những thiếu nữ váy hoa xanh thơ ngây lẹ làng trèo lên, ngó vào các miệng chum đá cao tới 2 - 3m. Tết, với họ là những chuyến đi chơi xuyên bản làng và khám phá thiên nhiên, di sản văn hóa.
Ở Luang Prabang, sáng ra, ai té nước cứ té, nhiều người vẫn tĩnh tâm như tượng đá: thành kính quỳ ven đường chờ các vị sư áo vàng cam lật phật đi khất thực. Dòng sông Phật giáo thiện lương ngoài kia, ngã ba sông Nậm Khan gặp sông Mê Kông thật lãng mạn, các ngôi cổ tự của cố đô u trầm. Vài con thuyền rời phố sang với cù lao xanh. Trên thuyền phủ kín bóng áo vàng cam của người nhà chùa. Họ về chùa. Để mặc con thuyền gỗ lắc lư trồi thụt quanh một gốc cổ thụ ven bờ.
2. Mỗi lần gặp một cái tết lớn ở một quốc gia nào đó, tôi luôn nhớ đến câu thơ của Thế Lữ, nhất là khi mà bạn bè trở về nhà và thăng hoa tột cùng với các lễ hội truyền thống của họ. Còn mình, “Rũ áo phong sương trên gác trọ/ Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang”.
Nếu tết lúc ấy chỉ là ăn uống, tiệc tùng, chúc tụng những điều xơ cứng mô phạm, thì không có gì chán bằng. Bù lại, tết, như thông lệ, luôn là những trường liên tưởng lớn, là một thế giới sắc màu kỳ thú, kết tinh giá trị truyền thống nhiều đời.
Có lần đi Mông Cổ vào dịp Tết Naadam, tôi thật sự hào hứng và thấy mình quá may mắn. Muốn hiểu một vùng cư dân chuẩn nhất và nhanh nhất thì ra chợ, chợ họp có phiên, có khi họp mỗi ngày. Còn may mắn nhất là khi đi khám phá đời sống, lịch sử, văn hóa, tộc người ở quốc gia vùng lãnh thổ nào đó, mà lại có mặt đúng dịp tết, lễ lớn nhất trong năm của họ.
Người ở quốc gia “du mục”, với vó ngựa thảo nguyên và vô cùng nhiều lễ hội liên quan tới ông Thành Cát Tư Hãn, họ mở hội trong lòng, với cái Tết Naadam không lẫn đi đâu được. Tết là khi toàn dân thượng tôn 3 môn thể thao chính: đua ngựa, bắn cung và đấu vật Mông Cổ.
Rất nhiều mặt nạ kỳ thú được trưng ra, có ông mặt trắng, để cầu trường thọ; có ông mặt đen Đại Hắc Thiên - một vị hộ pháp trong Phật giáo Kim Cương thừa - với vẻ mặt giận dữ, đầu đội các hộp sọ và miệng thì nhe răng.
Thế giới mặt nạ vô cùng ám ảnh, với các loài linh thiêng như sư tử tuyết, rồng, đầu chim; với nhiều hình nhân nửa người nửa thú. Rồi ai đó rước mặt nạ 8 vị hộ pháp, thần chết, thần mặt trâu, thần đầu ngựa... Tất cả là để cầu bình an, xua đuổi tà khí, giải thoát con người ta khỏi những nỗi sợ hãi thông thường có thể có.
Ngoài kia, tôi chứng kiến anh chàng mặc trang phục tráng binh bách chiến bách thắng, chàng băng ngựa trên thảo nguyên, cúi xuống, treo mình trên lưng ngựa, nhặt một cái mũ cao bồi rơi trên cỏ ướt. Họ mời tôi ngủ lều ger, bắn cung, cưỡi ngựa, cưỡi lạc đà hai bướu.
Cả 3 môn thể thao trong dịp tết, chiếm gần hết các hoạt động chính của tết, mà toàn “môn phái” của tinh thần thượng võ. Đấu vật, bắn cung, cưỡi ngựa. Những chiến binh trên lưng ngựa từng chinh phục từ châu Á sang châu Âu, tạo nên một đế quốc có diện tích rộng lớn bậc nhất trong lịch sử loài người.
700 dân tộc bị khuất phục dưới vó ngựa và lưỡi gươm bạo tàn của những người đón tết bằng... tinh thần thượng võ. Cả đời tung hoành với lẽ sống quả cảm “da ngựa bọc thây”, mỗi mùa tết lại đấu vật, bắn cung, cưỡi ngựa.
Tôi chứng kiến họ cưỡi ngựa, trên tay có con đại bàng lớn, đại bàng săn cáo, săn thỏ. Ngựa, đại bàng, chó săn đã giúp họ chăn thả các đàn đại gia súc, chúng đông tới mức, khi di chuyển: cứ trùng trùng như sóng trên cỏ xanh.
3. Có năm, tôi lạc vào lễ hội cảm ơn thần linh của các bộ tộc da màu ở Indonesia, đất nước với hơn 17.000 hòn đảo, quốc gia Hồi giáo đông dân nhất thế giới. Ta chào mừng “ngài” đến với xứ (thành phố) Manokwari, dưới chân núi lớn Arfak muôn đời bí ẩn.
Hôm nay là tết lễ lớn nhất trong năm của chúng tôi. Ba giờ sáng đã lục tục trở dậy, lễ hội nhảy múa trên cỏ ướt. Cư dân da màu, nam nữ đều để vai trần, đầu đội mũ lông chim trắng hoặc vàng. Có người đội hàng trăm chiếc lông chim xanh đỏ tím vàng cắm trên một vương miện, có cọng lông dài vài chục xăng-ti-mét lất lưởng chấp chới. Nhiều người khấm khá hơn thì đội nguyên một con chim thiên đường cực kỳ độc đáo và quý hiếm.
Từ xa xưa, họ đã giết chúng, làm tiêu bản nguyên con (lúc đội trên đầu, chú chim như đang bay trong rừng), với đầy đủ các bộ phận. Họ muốn hoà nhập vào thế giới cổ xưa của tổ tiên họ, muốn bay lên như loài chim thiêng quý (chim của trời, của thiên đường, như tên gọi bird paradise).
Họ muốn hiểu lời truyền dạy của rừng già. Lời cảm ơn thiên nhiên vang lên, vũ điệu quây quần và rợp trời các phiến lông vũ rộn màu, dài thượt, rập rờn. Nhiều chuyên gia đã hốt hoảng: thế này thì bao nhiêu loài chim đẹp bị giết, lấy lông, lấy nguyên thân thể (nhồi tiêu bản) để phục vụ mỗi kỳ lễ hội? Cần hiểu: hầu hết các mẫu vật phục vụ lễ hội này đều là đồ gia bảo của mỗi gia đình, dòng tộc, họ lưu giữ như vật thiêng từ nhiều đời.
Bí quyết của tất cả những điều đặc sắc trên, chính là niềm tin tâm linh, là lòng tri ân của người tham gia lễ, tết với các thế hệ đã sáng tạo và gìn giữ những giá trị quý hiếm cho cộng đồng. Họ nương náu vào những lời nguyện cầu trong lễ hội kia để cân bằng chính mình và có được sức mạnh nhiệm màu nào đó rồi tiếp tục bước tới, họ cũng là những người đã nâng niu, đắp bồi các giá trị đó cho mai sau.
Ở góc nhìn nhân văn hơn, đó chính là các tài sản của chung nền văn minh Trái đất mà mỗi thành viên tham dự kia đều là những “báu vật nhân văn sống”./.