Chính trị - Thời sự

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt hành trình phát triển của đất nước

Lê Thanh Bài (Đại tá, TS, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam) 19/02/2026 08:00

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là lịch sử của những lựa chọn mang tính chiến lược nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền và quyền tự quyết của quốc gia. Từ những lời hịch hiệu triệu toàn dân đứng lên cứu nước đến các quyết sách lớn trong từng bước ngoặt lịch sử, tinh thần tự chủ luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt hành trình phát triển của đất nước.

80 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến (tháng 12-1946), 50 năm Lời kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước (tháng 7-1966) càng cho thấy giá trị bền vững của tư duy độc lập, tự chủ tạo nên nền tảng chiến lược để bảo vệ thống nhất non sông, định hình con đường phát triển.

ct-7(1).jpg
Quần chúng cách mạng và tự vệ chiến đấu chiếm Phủ Khâm sai (Bắc Bộ phủ), ngày 19-8-1945. Ảnh: TL TTXVN

Sáng ngời tâm thế, trí tuệ, bản lĩnh của một dân tộc tự quyết

Cách mạng Tháng Tám thành công, đưa nước Việt Nam trở thành một quốc gia dân chủ, độc lập. Tuy vậy, thành quả của hơn 80 năm đấu tranh đầy gian khổ bị kẻ thù lăm le tước đoạt. Thực dân Pháp quyết cướp nước ta lần nữa.

Ngày 23-9-1945, đồng bào Nam Bộ bước vào cuộc đấu tranh gìn giữ nền tự do, độc lập; Trung ương Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi cả nước ủng hộ miền Nam kháng chiến; đồng thời tìm mọi biện pháp hòa bình để giữ gìn độc lập, tự do.

Nhưng trước dã tâm xâm lược ngoan cố của giới thực dân hiếu chiến, mọi nỗ lực đưa đến con đường hòa bình đều bị khép lại. Đất nước đứng trước sự lựa chọn sinh tử: hoặc quay trở lại cuộc đời nô lệ, hoặc đứng lên chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng.

Trước thử thách nghiệt ngã đó, với phẩm giá của một dân tộc đã trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, không chịu khuất phục trước các thế lực bạo tàn, cả nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ theo Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh với quyết tâm: “hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước. Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta”.

Lời kêu gọi của Người cũng đã khẳng định chiến lược đấu tranh bảo vệ Tổ quốc đó là tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và nhất định sẽ thắng lợi. Đường lối đó được bắt nguồn từ sức mạnh của truyền thống đấu tranh giữ nước, của khối đại đoàn kết toàn dân; là sự thể hiện quyết tâm sắt đá của cả dân tộc, khơi dậy sức mạnh chủ nghĩa yêu nước, truyền thống anh hùng bất khuất; động viên, thôi thúc, cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vượt qua gian khổ hy sinh, tiến hành cuộc kháng chiến trong tương quan hết sức chênh lệch, trong khi đối phương là đội quân thiện chiến, hiện đại, được chỉ huy bởi những viên tướng được đào tạo từ những học viện quân sự lừng danh; còn “quân đội ta là một quân đội thơ ấu.

Tinh thần dũng cảm có thừa, nhưng thiếu vũ khí, thiếu kinh nghiệm, thiếu cán bộ, thiếu mọi mặt”, phải “Lột sắt đường tàu/ Rèn thêm đao kiếm/ Áo vải chân không/ Đi lùng giặc đánh”; chiến đấu giành thắng lợi từng bước để đi đến làm nên thắng lợi Điện Biên Phủ, buộc đối phương và cộng đồng quốc tế phải công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; thể hiện sáng ngời tâm thế, trí tuệ, bản lĩnh và cốt cách của một dân tộc tự quyết vận mệnh của mình bằng quyết tâm “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

Có thể nói, trong hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, tư tưởng “toàn dân kháng chiến”, “toàn diện kháng chiến” và “trường kỳ kháng chiến” không chỉ là một sách lược quân sự, mà còn là sự lựa chọn mang tầm chiến lược về con đường phát triển của dân tộc: dựa vào sức mình là chính, tự quyết định vận mệnh của mình, không lệ thuộc vào bất kỳ thế lực nào.

Khẳng định chân lý “không có gì quý hơn độc lập, tự do”

Sau hơn 10 năm tiến hành công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà, quân và dân Việt Nam lại phải đương đầu với thách thức lớn nhất trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, lại trong bối cảnh tình hình quốc tế cũng không thuận lợi.

Các lực lượng đế quốc tăng cường tấn công phong trào cách mạng; tiến hành chiến lược diễn biến hòa bình đối với các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu; kích động các lực lượng phản động ở nhiều nước tiến công vào các đảng cộng sản...

Trong khi đó, trước nguy cơ phá sản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”; đưa quân viễn chinh Mỹ và quân đội đồng minh trực tiếp tham chiến trên chiến trường miền Nam, đồng thời sử dụng không quân, hải quân tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc.

Hành động leo thang chiến tranh của Mỹ đã gây lo ngại cho cộng đồng quốc tế, liệu Việt Nam nhỏ bé phải “ứng xử” thế nào trước sức mạnh kinh tế, khoa học kỹ thuật và cỗ máy quân sự khổng lồ, rất hung hãn của Mỹ? Một số nước đã khuyên ta nên tìm cách đàm phán với Mỹ.

Trước tình hình đó, thực hiện mục tiêu chiến lược thống nhất non sông, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “chúng ta quyết tâm giành độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc, giành tự do hoàn toàn cho nhân dân”. Quân và dân trên 2 miền Nam - Bắc kiên cường chiến đấu đánh bại các hành động leo thang của quân xâm lược “thắng hiệp đầu trong cuộc chiến tranh cục bộ”1, làm phá sản mục tiêu cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 - 1966 của Mỹ ngụy.

Trước tình hình đế quốc Mỹ tăng cường đánh phá miền Bắc, chuẩn bị mở cuộc phản công lớn, ngày 17-7-1966, qua làn sóng Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời Kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước “toàn dân và toàn quân ta đoàn kết một lòng, không sợ hy sinh gian khổ, kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”.

Lời hiệu triệu của Người là sự khẳng định sự tự chủ về chiến lược trong bối cảnh thế giới hết sức phức tạp để thực hiện nhiệm vụ cao cả của cả dân tộc, thể hiện rõ nét bản lĩnh tự chủ, sự kiên định của Việt Nam trong lựa chọn con đường đấu tranh phù hợp với điều kiện, thực lực và mục tiêu của đất nước. Từ đó tạo nên một vận động chính trị - tinh thần to lớn, quy tụ và thống nhất ý chí của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tộc, củng cố niềm tin sắt đá vào thắng lợi cuối cùng.

Trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta đã làm nên những chiến thắng vang dội, đánh bại cuộc phản công mùa khô năm 1966 - 1967, tiến hành cuộc Tổng tiến công nổi dậy Mậu Thân 1968, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.

Theo đó, đưa cuộc kháng chiến bước sang giai đoạn mới, giành lấy những thắng lợi có tính quyết định để giành thắng lợi vẹn toàn vào mùa xuân 1975, hoàn thành sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất giang sơn; đưa đất nước bước vào “kỷ nguyên của độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội”. Với truyền thống đấu tranh bất khuất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta đã “chủ động sáng tạo ra lịch sử của mình”2.

Bồi đắp năng lực tự chủ, tạo sức mạnh cho kỷ nguyên phát triển mới

Hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ; đất nước thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tiến hành công cuộc đổi mới đất nước trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều biến động phức tạp, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Trong xu thế các nước xã hội chủ nghĩa tiến hành đổi mới; Đảng đã lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm. Chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo sát, sớm, đúng tình hình, tự chủ chiến lược, có đối sách phù hợp, kịp thời, linh hoạt hiệu quả để đi đến thành công, trong bối cảnh công cuộc cải cách, đổi mới ở các nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô và Đông Âu rơi vào khủng hoảng, sụp đổ.

Trong nhiều nguyên nhân thành công, có nguyên nhân cơ bản là Đảng đã quán triệt sâu sắc và thực hành triệt để quan điểm “dân là gốc”, là sức mạnh của công cuộc đổi mới, là mục tiêu của đổi mới để tự chủ về chiến lược.

Nhìn từ chiều sâu lịch sử, đó cũng là sự kế tục những lời hịch kêu gọi non sông của cha ông trong lịch sử, Lời kêu gọi của Bác Hồ trong 2 cuộc kháng chiến với kết tinh của tư duy chiến lược độc lập, tự chủ, sáng tạo.

Thực tiễn đấu tranh sinh tử đi đến thống nhất non sông, dựng xây đất nước phát triển là minh chứng sinh động cho năng lực tự quyết vận mệnh dân tộc bằng chính trí tuệ, bản lĩnh và sức mạnh của mình.

Có thể khẳng định, với truyền thống đấu tranh bất khuất và dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta đã chủ động sáng tạo ra lịch sử của mình, góp phần tạo nền móng vững chắc, bồi đắp năng lực tự chủ chiến lược của đất nước trong các giai đoạn phát triển tiếp theo.

Ngay ngày đầu năm mới 2026, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “chúng ta cần nhìn thẳng vào thực tiễn, nhận diện đúng cơ hội và thách thức; tổng kết điều đã làm được, chỉ rõ điều còn vướng và quan trọng nhất là thống nhất ý chí, thống nhất hành động để đi tiếp cho vững vàng”, “Giữ vững niềm tin, kỷ cương, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc và hạnh phúc của nhân dân lên trên hết”.

Đây là cơ sở để tự chủ chiến lược, lựa chọn quyết sách thực hiện thắng lợi các mục tiêu đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, Việt Nam trở thành một nước đang phát triển công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển có thu nhập cao.

Đây cũng là lời kêu gọi để cả nước đoàn kết, hiệp lực, đồng tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đã chọn, tin vào sức mạnh của dân tộc để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.

1 Nghị quyết của Bộ Chính trị, tháng 10-1996.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, t. 36, tr. 49.

Lê Thanh Bài (Đại tá, TS, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam)