Phóng sự - Điều tra - Ghi chép

Tết miền biên viễn, dự một lần nhiều năm thương nhớ

Đỗ Lãng Quân 10/02/2026 21:13

Tết, theo chiết tự, chỉ là “tiết”, nôm na là khởi đầu của một năm, một tháng, một mùa, một chu kỳ sản xuất nông nghiệp... - một sự chia mốc thời gian. Nhưng tết nguyên đán ở ta, kèm với lễ và hội, với niềm tin tâm linh và văn hoá tộc người, đã trở thành một “trường liên tưởng” đầy cảm kích và thiêng liêng. Tôi đã may mắn được dự những cái tết miền biên viễn để rồi thương nhớ mãi không thôi...

ps-2-2.jpg
ps-2-1.jpg
Thiếu nữ cùng trẻ em Hà Nhì vui đón tết_Ảnh: Đ.D.H

Có lần lang bạt đón tết vùng cao, gặp những phong tục đẹp và hồn nhiên tới mức sững sờ và bao năm chưa nguôi nhung nhớ. Đang đi ở vùng ngã ba biên giới “một con gà gáy ba nước cùng nghe”, giáp ranh Việt Nam - Trung Quốc và Lào, ghé thăm bà con dân tộc Hà Nhì (xã Sín Thầu, tỉnh Điện Biên), chúng tôi ngơ ngác nghĩ mình hoa mắt, khi gặp những cái cổng chào làm bằng cây gạo tươi gai góc nhọn hoắt to đùng. Trên đó treo đủ cung nỏ, súng ống, lựu đạn, dao găm,... đẽo bằng gỗ. Vài chỗ còn treo thêm cái thủ cấp con dê hay con bò, máu me còn đỏ, sừng nhọn cong lộc ngộc, trời biên tái lạnh căm căm, thấy rùng mình đấy nhưng không hề tanh tưởi.

Dưới chân mỗi cột của cổng chào là các sọt đất lớn được quây cạp lại bằng cật tre tươi sắc lẻm. Ở đó, họ nặn rất nhiều hình người thơ ngộ bằng đất. Ai nấy đầu to, chân tay cái to cái bé ngẫu hứng bổng trầm, nhưng riêng có sinh thực khí thì ai nấy... rất đặc biệt và có vẻ đều được nặn chăm chút nhất. Chúng to ngoài sức tưởng tượng, các “chi tiết” được làm bằng cỏ, bằng cọng tre, có khi dòng nước phun ra từ sinh thực khí nam được thể hiện bằng cọng cỏ trắng cắm vào phần đầu và cong vút bay ra... Ai xem cũng ngỡ ngàng: chắc cái ông cái bà nặn các “ông bà” này phải hài hước lắm, phải khát khao phồn thực lắm. Bất giác, tôi thấy mình như đi lạc vào lễ hội linh tinh tình phộc (Trò Trám) ở Tứ Xã, vùng Lâm Thao, Phú Thọ vậy.

Sau khi chụp ảnh và hết sức tò mò, chúng tôi đi hỏi cán bộ biên phòng, hỏi nhà nghiên cứu văn hoá dân gian sở tại, mới biết: bà con người Hà Nhì làm tết “cấm bản”. Tức là cấm người và cấm cả ma tà xâm nhập vào bản. Vì cấm không mở cửa bản trong các ngày lễ tết, nên ai đã vào thì được hoan hỉ mời ở lại ăn thịt uống rượu, múa hát thâu đêm suốt sáng, không được ra ngoài trong thời gian 3 ngày đã ấn định trên. Vì ra ngoài phải đi qua cái cổng ấy, qua cổng phải mở cổng, mở cổng thì ma tà nó vào. Trước, họ cấm tất, cấm cả cán bộ biên phòng đi tuần tra, giáo viên cắm bản đi dạy học. Sau này bị “góp ý”, họ chỉ “thông cảm” cho 2 lực lượng quan trọng vùng biên kể trên.

ps-2-3.jpg
Bà con các loại “vũ khí” được đẽo bằng gỗ treo ở đầu bản đè trừ ma tà..._Ảnh: Đ.D.H

Các hình cung nỏ, vũ khí, đầu lâu ghê gớm kia treo lên dọa ma; các cụ ông cụ bà phồn thực kia là để cầu sinh sôi mùa màng, con cháu đông đàn dài lũ. Có điều thú vị là: các cảnh được mô tả trên không phải sự tái hiện phong tục cổ, càng không phải là một nghi lễ khô cứng cổ xưa. Bà con tiếp thu nhiều cái mới lắm, cán bộ thì đặc cách cho ra vào. Sau chiến tranh biên giới, trên bản có thêm lựu đạn mỏ vịt, đạn M79, súng AK, thế là trong hệ thống các “đơn vị vũ trang” treo ở cổng gỗ gạo (loài cây to nhất mà có gai góc trên địa bàn) để dọa ma tà, họ đẽo luôn hình các vũ khí đạn dược mới.

Tết “Cô Nhẹ Chà” của người Hà Nhì đã quyến rũ tôi với những lần đi ngót nghìn cây số, cùng các a nhí (em gái) người Hà Nhì nhảy các điệu dân vũ lý lơi trong sương mù, bên dòng suối Mo Phí, với những triền hoa cúc quỳ vàng mê mải miên man. Hồi đầu, hơn 20 năm trước, có khi chúng tôi phải đi bộ quãng 10 ngày mới chinh phục được các bản làng xa xôi Tả Kho Khừ, Leng Su Sìn, Tá Miếu, Sen Thượng của các sơn nữ. Tết, a nhí tỉ mẩn tết những tổ chim én bằng cỏ, treo lên đầu nhà, dụ từng đàn chim én về tình tự sinh sôi. Em tết tú cầu màu đỏ, đan khăn len, lén tặng người trong mộng.

Tết về len lén trên phố phường, chợt lại nhớ muôn vàn dáng núi phóng khoáng nhấp nhô, với những cơn gió cường tráng đầu xuân trên lá cờ khổng lồ 54m2 trên đỉnh cột cờ Lũng Cú (xã Lũng Cú, tỉnh Tuyên Quang). Dưới chân núi là bản Lô Lô Chải, đang diễn ra lễ cúng ma cỏ của đồng bào người Lô Lô, ở nơi tận cùng phía Bắc Việt Nam. Từ vài ngày trước đại lễ, các trai tráng người Lô Lô đã công phu vào rừng tìm, dễ đến cả tạ, một loại cỏ đặc biệt, phục vụ cho nghi lễ hoá trang thành những con ma (thần linh) phủ cỏ cây kín toàn bộ thân thể. Phải dậy từ tinh mơ, họ cầm đèn pin, lần vào rừng già, cắt những dây cỏ dài, sũng sương đêm tinh khiết. Đem về buộc cỏ phủ kín toàn bộ cơ thể mỗi nam giới trong bản Lô Lô Chải. Chỉ còn đôi mắt là không phủ cỏ, vì còn phải nhìn ngó khi nhảy múa suốt 3 ngày đêm trong lễ “ma cỏ”. Họ bèn lấy mo nang bịt trên mặt mỗi người, khoét hai cái lỗ nho nhỏ tối om thần bí. Nếu hở một dấu hiệu của da thịt, quần áo, mũ mãng, giày tất nào ra ngoài là sẽ bị thần linh trừng phạt, không chỉ người ấy mà cả bản làng sẽ cùng gặp tai ách.

Niềm tin tâm linh giám sát họ. Họ biến mình thành ma cỏ để được giống hệt tổ tiên mình (những người rừng mặc trang phục cỏ cây thời cổ), để được hòa nhập, trò chuyện, cung kính, giao lưu với thế giới bên kia của tiên tổ, thần linh. Để bày tỏ lòng hiếu đễ, kính ngưỡng, tri ân những người đã khuất. Để “quỵ luỵ” xin thần linh luôn độ trì cho dân bản.

Có hòa mình vào lễ cúng ma cỏ ở bản “tột Bắc” (chữ dùng của nhà văn Nguyễn Tuân) Việt Nam, mới thấy ý nghĩa sâu xa và cảm kích của một tục lệ độc đáo. Mới càng thấm thía rằng: tết, lễ, chính là dây dẫn, là mạch nguồn, là nét son đặc sắc để người sở tại và các lữ khách như chúng tôi được dẫn lối, từ đó hiểu hơn về các phong tục, các giá trị văn hoá, tộc người ở mỗi vùng đất. Mà “trang phục” ma cỏ, với các cây cỏ ống dài thượt đặc trưng của lễ cúng, tôi đã mặc thử, chúng rất nặng. Múa 3 ngày đêm, trong lúc thăng hoa của “sa man giáo”, cỏ úa nhàu đi, người ta lại đắp cỏ mới lên cho thật kín và cỏ luôn thật tươi. Rồi tiếp tục nhảy múa trong tiếng trống đồng hùng thiêng. Cả Việt Nam, chỉ hiếm hoi (nếu không nói là duy nhất) người Lô Lô xứ này vẫn giữ được lệ đánh trống đồng mỗi mùa lễ tết, theo nghĩa là một tục lệ cổ xưa, chứ không phải thứ phục dựng để “thao diễn”./.

Đỗ Lãng Quân