Hà Nội - từ phong trào "Bình dân học vụ" đến xây dựng xã hội học tập trong kỷ nguyên phát triển mới

1. Hà Nội – đi đầu cả nước trong phong trào bình dân học vụ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đã mở ra trang sử mới đối với lịch sử dân tộc - đất nước được độc lập, nhân dân được làm chủ. Tuy nhiên, sau Cách mạng Tháng Tám Việt Nam đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, vận mệnh dân tộc ở thế “ngàn cân treo sợi tóc”, trong đó nổi lên ba thách thức lớn là “giặc đói”, “giặc dốt” và giặc ngoại xâm.
Về “giặc dốt”, do thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân, “hạn chế mở trường học, không muốn cho dân ta biết chữ”1 nên đã gây hậu quả hết sức nặng nề: “95% dân chúng Việt Nam không biết một thứ chữ gì. Riêng với phụ nữ, nạn mù chữ rất nặng nề với tỷ lệ 97,1% - 99,7%”2; “Tính ra trong 100 người dân chỉ có 3 trẻ em từ 8 đến 16 tuổi được đi học, 2 người lớn biết chữ, còn 95 người mù chữ. Đó là chưa kể đến vùng thôn xóm hẻo lánh hay vùng đồng bào thiểu số, ở đó, tỷ số người thất học lên tới 100%”3.
Việc thất học là một trở ngại lớn đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cho rằng: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”4. Vì thế, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng nền giáo dục mới, trước hết là xóa nạn mù chữ cho người dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Dốt thì dại, dại thì hèn. Vì không chịu dại, không chịu hèn cho nên thanh toán nạn mù chữ là một trong những việc cấp bách và quan trọng của nhân dân các nước dân chủ mới”5.
Xây dựng nền giáo dục mới được Đảng sớm hoạch định ở Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về kháng chiến, kiến quốc ngày 25/11/1945, nêu rõ: “… tổ chức bình dân học vụ, tích cực bài trừ nạn mù chữ, mở đại học và trung học, cải cách việc học theo tinh thần mới, bài trừ cách dạy học nhồi sọ, cổ động văn hoá cứu quốc”6. Đồng thời, bản Chỉ thị xác định tính chất của nền giáo dục với “3 nguyên tắc: khoa học hóa, đại chúng hóa, dân tộc hóa”7.
Ngày 03/9/1945, trong phiên họp đầu tiên, Chính phủ đã thảo luận và tán thành 6 vấn đề cấp bách nhất do Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra, trong đó xác định nhiệm vụ thứ hai là “Mở chiến dịch chống nạn mù chữ”, nhiệm vụ thứ 4 là “Mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH để bài trừ những thói hư tật xấu của chế độ thực dân để lại”8.
Như vậy, ngoài việc bàn các biện pháp chống “giặc đói”, “giặc ngoại xâm” và thực thi các quyền tự do, dân chủ thì các biện pháp chống “giặc dốt”, xóa nạn mù chữ đã được Đảng, Chính phủ quan tâm và đặt ra ngay từ đầu. Đảng, Chính phủ xác định đây là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách, bởi lẽ, người dân biết đọc, biết viết thì mới hiểu được quyền lợi và trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ và xây dựng đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ"9. Từ đó, Người “đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ”10, coi đó là bước đột phá đầu tiên để nâng cao dân trí.
Đáp ứng nguyện vọng đó, ngày 08/9/1945, thay mặt Chính phủ lâm thời, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký các sắc lệnh về giáo dục, cụ thể: Sắc lệnh số 17/SL thành lập Nha Bình dân học vụ trong Bộ Quốc gia Giáo dục, quy định mọi người phải ra sức diệt giặc dốt, đi liền với diệt giặc đói và giặc ngoại xâm.
Nhiệm vụ thanh toán nạn mù chữ được đặt lên hàng đầu, đồng thời tiếng Việt được quyết định dùng làm ngôn ngữ của nền giáo dục và cho mọi công văn giấy tờ; Sắc lệnh số 18/SL bãi bỏ ngạch học quan do chính sách thực dân Pháp đặt ra; Sắc lệnh số 19/SL hạn trong 6 tháng, làng nào và thị trấn nào cũng phải có ít ra là 1 lớp học bình dân dạy được ít nhất là 30 người; Sắc lệnh số 20/SL quy định việc bắt buộc học chữ Quốc ngữ trong toàn quốc, quy định học không mất tiền, hạn trong một năm tất cả mọi người Việt Nam từ 8 tuổi trở lên phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ11.
Cùng với các sắc lệnh trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Chống nạn thất học”, kêu gọi toàn dân tích cực tham gia công cuộc chống nạn mù chữ. Người nhấn mạnh sự quan trọng của công cuộc bình dân học vụ; khuyên những người chưa biết chữ phải thi đua đi học và những người biết chữ phải thi đua dạy học; kêu gọi mọi người, kẻ giúp của, người giúp công để tiêu diệt “giặc dốt”12.
Hướng ứng phong trào bình dân học vụ, ngay trong những ngày sau Cách mạng Tháng Tám, Hà Nội trở thành nơi mở đầu và đi đầu trong phong trào “diệt giặc dốt”, thanh toán nạn mù chữ. Phong trào diễn ra sôi nổi và thu hút sự tham gia đông đảo của mọi tầng lớp nhân dân.
Đặc biệt, nhân dân Hà Nội đã có nhiều hình thức sáng tạo để cổ động và ủng hộ cho phong trào bình dân học vụ như: triển lãm tranh ảnh, sáng tác văn học, hội họp mít tinh, tổ chức lửa trại, chạy rước đuốc, biểu diễn văn nghệ, đóng góp gây quỹ…; thậm chí vào Ngày bình dân học vụ năm 1946 ở Hà Nội đã có một hoạt cảnh “tra khảo giặc dốt” mang hình thức kịch đường phố2.
Nhiều sinh hoạt thường nhật được nhất hóa vào việc xóa nạn mù chữ. Mùa hè nóng bức ra gánh nước ở giếng làng, ai đã biết chữ muốn gánh lúc nào thì gánh, ai chưa biết chữ thì đến đêm mới được gánh. Muốn qua đò phải kiểm tra học vấn, ai không biết chữ sẽ bị làm khó dễ. Muốn vào chợ cũng phải kiểm tra tương tự, ai không biết chữ phải đi vòng qua một cánh đồng mà vào cổng chợ ở lối sau. Vào làng có hai cổng, cổng danh dự dành cho những người có chữ nghĩa, ai không biết chữ phải vào cổng nhỏ hẹp hơn, cổng dốt3. Ở ngoại thành Hà Nội định kỳ đặt trạm kiểm soát người thất học trên các tuyến giao thông4.
Đáng chú ý là cả thiết chế làng xã truyền thống với chế độ ruộng đất và hệ thống luật tục cũng được huy động để xóa nạn mù chữ. Trai gái muốn lấy nhau mà không biết chữ thì không có phép nộp cheo, phải biết chữ làng mới cho cưới. Ở ngoại thành Hà Nội, Ủy ban hành chính còn ra lệnh thu hồi phần công điền của những người chưa biết chữ sung làm học điền5.
Việc cấp phát giấy tờ theo thủ tục hành chính cũng được kết hợp với hoạt động Bình dân học vụ: tháng 6/1945 Ủy ban hành chính ngoại thành Hà Nội ra lệnh người có liên quan không được điểm chỉ mà phải ký tên trong các giấy tờ và phải đọc được những giấy tờ mình ký6.
Bên cạnh các lớp học của khu phố, thôn xóm, hầm mỏ, đồn điền, nhà thờ, doanh trại, các lớp học tư gia cũng được mở khắp nơi. Phu xe kéo đi học, chị em xóm ả đào đi học, công nhân mỏ than đi học, trẻ em bán dạo đi học, người già sáu bảy mươi tuổi đi học, phụ nữ đang cho con bú đi học. Ủy ban Tăng già Bắc Bộ mở lớp dạy chữ cho trẻ em thất học ở chùa Quán Sứ.
Trên nền tảng xã hội ấy, phong trào Bình dân học vụ đã huy động được nhiều nguồn lực để vượt qua những khó khăn tưởng như không thể vượt qua về tổ chức và nhân lực, tài chính và kỹ thuật đương thời. Hoàn cảnh thiếu trường sở, thiếu giáo viên, thiếu sách vở, thiếu học cụ lại đưa tới vô số bằng chứng về sự quyết tâm, lòng nhẫn nại, đức hy sinh, gương phấn đấu trên đường tìm tới ánh sáng của học vấn qua phong trào Bình dân học vụ ở Hà Nội trong những năm 1945 – 1946 trở thành phong trào tiêu biểu cho khát vọng và ý chí hiện đại hóa của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam nói chung và nhân dân Hà Nội nói riêng.
Tuy nhiên, chiến tranh bùng nổ cùng nhiều khó khăn khác, đến ngày giải phóng Thủ đô (10/1954), mặc dù là trung tâm hàng đầu của cả nước về trình độ văn hoá nhưng vẫn còn hàng chục vạn người chưa biết chữ7. Vì thế, ngay sau ngày tiếp quản, thành phố đã thành lập Ban Vận động thanh toán nạn mù chữ thành phố do Chủ tịch Ủy ban hành chính thành phố làm Trưởng ban3.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền các cấp, từ thành phố đến các quận, các xã, các lớp bình dân học vụ được mở rộng rãi, thu hút đông đảo người học. Thành phố vừa động viên, khuyến khích, vừa áp dụng các biện pháp có tính ràng buộc để người chưa biết chữ đến các lớp học, cũng như bố trí, điều động đội ngũ giáo viên và cả người tình nguyện tham gia việc dạy học.
Sau khi tiếp quản Thủ đô, Đảng bộ và chính quyền thành phố Hà Nội đã xác định, việc nhanh chóng xóa nạn mù chữ là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Vì thế, khắp nơi trên địa bàn Thủ đô, các lớp bình dân học vụ được mở rộng rãi, thu hút đông đảo người học. Thành phố nhanh chóng phục hồi các trường học, tận dụng hệ thống cơ sở vật chất của chế độ cũ, dù hầu hết đều là trường tư thục với số lượng ít. Chỉ ít ngày sau khi tiếp quản Thủ đô, các trường học của Hà Nội đã khai giảng năm học đầu tiên sau hòa bình.
Đến cuối năm 1958, Hà Nội đã căn bản hoàn thành việc thanh toán nạn mù chữ với tỷ lệ cao, đạt 97,29% (nội thành đạt 98,1%; ngoại thành đạt 94,6%). Việc bổ túc văn hoá cho cán bộ, công nhân và nhân dân cũng được đẩy mạnh với hơn 85.000 người tham gia các lớp bổ túc văn hoá.
Cùng với kết quả căn bản xử lý xong nạn mù chữ, thành phố cũng tận dụng hệ thống giáo dục cũ về cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của con em các tầng lớp nhân dân, đồng thời phát triển hệ thống các trường công lập, từng bước đưa giáo dục công lập chiếm vai trò chủ đạo trong hệ thống các trường học toàn thành phố.
Vượt qua những khó khăn, với nỗ lực của Đảng bộ và chính quyền, sự quyết tâm của nhân dân thành phố, công tác bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ ở Hà Nội trong những năm đầu sau giải phóng đã đạt được những kết quả to lớn.
Đến cuối năm 1955, toàn thành phố có 12.894 người (3.211 nam, 9.683 nữ) tham gia các lớp bình dân học vụ và xóa mù chữ, bao gồm: bổ túc bình dân lớp 3, 4 có 140 người (91 nam, 49 nữ), bổ túc bình dân lớp 1, 2 có 782 người (402 nam, 380 nữ), dự bị bổ túc có 2.133 người (589 nam, 1.544 nữ) và tập đánh vần có 9.839 người (2.129 nam, 7.710 nữ). Tổng số người biết đọc viết được nhưng hiện đã nghỉ học là 62.262 người (28.774 nam, 33.488 nữ). Dù vậy, đến thời điểm này, thành phố vẫn còn tới 43.981 người chưa biết chữ (8.978 nam, 35.003 nữ)8.
Đến năm 1957, dù phong trào bình dân học vụ gặp nhiều khó khăn, do bệnh mùa hè, hạn hán và công tác đột xuất quá nhiều gây ra, thành phố chỉ còn 9.175 người chưa được xóa mù chữ, riêng nội thành còn 2.266 người, hầu hết là những người rất khó có điều kiện học tập9. Và đến cuối năm 1958, Hà Nội đã căn bản hoàn thành việc thanh toán nạn mù chữ với tỷ lệ cao, đạt 97,29% (nội thành đạt 98,1%; ngoại thành đạt 94,6%).
Việc bổ túc văn hoá cho cán bộ, công nhân và nhân dân cũng được chú ý đẩy mạnh với hơn 85.000 người tham gia các lớp bổ túc văn hoá10. Đây là một thành tựu hết sức to lớn của Đảng bộ, chính quyền cùng sự quyết tâm cao của toàn thể nhân dân Thủ đô những năm đầu sau ngày giải phóng.
2. Hà Nội xây dựng xã hội học tập hướng tới “Thành phố học tập toàn cầu” trong kỷ nguyên phát triển mới
Phát huy truyền thống lịch sử ngàn năm văn hiến, anh hùng; truyền thống hiếu học, trọng học, thành phố Hà Nội luôn quan tâm đến công tác khuyến học, khuyến tài, học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập, triển khai quyết liệt, đồng bộ các văn bản của Trung ương về xây dựng xã hội học tập11, được thể hiện bằng việc ban hành rất nhiều các văn bản, tiêu biểu: Chương trình số 06-CTr/TU ngày 13/7/2021 về “Phát triển văn hoá; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh giai đoạn 2021 - 2025”, Kết luận số 51-KL/TU ngày 07/4/2022 của Hội nghị chuyên đề của Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố khóa XVII về “Kế hoạch đầu tư xây dựng, cải tạo trường học công lập đạt chuẩn quốc gia, nâng cấp hệ thống y tế và tu bổ, tôn tạo di tích trong giai đoạn 2022 - 2025 và các năm tiếp theo của thành phố Hà Nội”; HĐND Thành phố ban hành Nghị quyết số 02/NQHĐND ngày 08/4/2022 và UBND Thành phố ban hành Kế hoạch số 139/KHUBND ngày 06/5/2022 để triển khai thực hiện Kế hoạch đầu tư 03 lĩnh vực nêu trên; HĐND, UBND Thành phố ban hành nhiều văn bản để triển khai thực hiện Kết luận số 49-KL/TW của Ban Bí thư và chỉ đạo của Thành ủy cụ thể là: Kế hoạch số 290/KH-UBND ngày 16/12/2021 của UBND Thành phố về việc thực hiện Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021-2030 thành phố Hà Nội”; Kế hoạch số 103/KH-UBND ngày 14/4/2021 “Triển khai thực hiện việc đánh giá, xếp loại Đơn vị học tập trên địa bàn thành phố Hà Nội”; Nghị quyết số 02/2023/NQHĐND ngày 04/7/2023 của HĐND Thành phố “Quy định giá dịch vụ giáo dục tạm thời để thực hiện thí điểm đối với các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông sử dụng ngân sách nhà nước của thành phố Hà Nội”... tạo cơ sở pháp lý quan trọng để góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và học trên địa bàn Thủ đô.
Trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra sâu rộng, tác động mạnh mẽ, toàn diện tới mọi mặt của đời sống xã hội và mọi quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, điều này đòi hỏi con người phải có tri thức, kỹ năng, tay nghề và khả năng thích ứng cao với mọi tình huống. Mọi công dân có trách nhiệm và quyền được học tập thường xuyên, học tập suốt đời, tận dụng mọi cơ hội học tập để trở thành công dân tốt, công dân số, công dân toàn cầu. Vì thế, vai trò của học tập, rèn luyện, tự trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ nhằm nâng cao nhận thức và hành động về xây dựng xã hội học tập, thúc đẩy việc học tập suốt đời cho mọi người dẫn là nhiệm vụ quan trọng.
Trước yêu cầu mới, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 16/11/2023 “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập trên địa bàn thành phố Hà Nội từ nay đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, với quan điểm chỉ đạo: công tác khuyến học, khuyến tài, học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ chính trị quan trọng của cả hệ thống chính trị nhằm thực hiện tốt các chính sách xã hội, phát triển, khơi thông nguồn lực văn hóa, nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, đào tạo nhân tài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tạo động lực mới cho phát triển nhanh, bền vững Thủ đô và đất nước, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi mô hình kinh tế dựa vào tri thức, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và xu thế phát triển của thời đại theo tinh thần Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 05/5/2022 của Bộ Chính trị về Phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cụ thể là: “Tập trung xây dựng Thủ đô Hà Nội thực sự là trung tâm lớn, tiêu biểu của cả nước về giáo dục, đào tạo chất lượng cao, thích ứng với quá trình chuyển đổi số quốc gia, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế...”12.
Từ đó, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành Kế hoạch số 52/KH-UBND, ngày 07/02/2024, triển khai thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TU ngày 16/11/2023 của Thành ủy Hà Nội về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập trên địa bàn thành phố Hà Nội từ nay đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân Thủ đô, góp phần nâng cao nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Thủ đô và đất nước. Phấn đấu Thủ đô Hà Nội gia nhập vào mạng lưới “Thành phố học tập” của UNESSCO trong thời gian sớm nhất với 08 nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm.
Để xây dựng xã hội học tập, Hà Nội gắn với xây dựng văn hóa, con người Hà Nội, thanh lịch, văn minh với nhiều hoạt động triển khai gồm: Tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức và hiệu quả của công tác khuyến học, khuyến tài, học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập và mô hình học tập trong điều kiện nền kinh tế số, xã hội số; thi đua học tập suốt đời; phát huy sáng kiến, giải pháp khuyến khích và phát triển văn hóa học tập trong cộng đồng.
Xây dựng các cơ chế, chính sách hỗ trợ và đẩy mạnh hoạt động của các thiết chế giáo dục chính quy và không chính quy, thiết chế văn hóa, các trung tâm học tập cộng đồng, tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi cho người dân học tập suốt đời...
Trên cơ sở đó, thành phố Hà Nội đã triển khai toàn diện, đồng bộ các giải pháp và tập trung nguồn lực, huy động sự tham gia, phối hợp của các tổ chức, cá nhân trong việc thúc đẩy học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập, hoàn thành các mục tiêu trong Kế hoạch số 52/KH-UBND, ngày 07/02/2024, của Ủy ban nhân dân thành phố về triển khai thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TU, ngày 16/11/2023, của Thành ủy Hà Nội về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập trên địa bàn thành phố Hà Nội từ nay đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” với tinh thần “Học tập không bao giờ cùng”.
Đặc biệt, trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số toàn diện, Hà Nội đi tiên phong thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Thành lập Ban Chỉ đạo 57, ban hành Kế hoạch số 05-KH/BCĐ57 ngày 22/4/2025 của Ban Chỉ đạo 57 Thành ủy về triển khai phong trào “Bình dân học vụ số” trên địa bàn thành phố, Kế hoạch số 138/KH-UBND triển khai Phong trào "Bình dân học vụ số" trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Trong đó xác định rõ 6 chỉ tiêu, 5 nhóm nhiệm vụ, trong đó tập trung các nhiệm vụ về Tuyên truyền và phổ biến; Triển khai các nền tảng số phục vụ các hoạt động; Đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng số cơ bản; Phát huy vai trò Tổ Chuyển đổi số cộng đồng và lực lượng xã hội tham gia thực hiện và triển khai các mô hình lan tỏa kỹ năng số cho cộng đồng; trong đó xác định rõ vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan đơn vị và cá nhân trong triển khai thực hiện"; Công văn số 1792/UBND-ĐMPT, ngày 06/5/2025 về việc thực hiện Kế hoạch số 05-KH/BCĐ57; Chỉ thị số 11/CT-UBND ngày 24/7/2025 của UBND thành phố Hà Nội về việc triển khai Chiến dịch “45 ngày đêm ra quân hỗ trợ hoạt động chuyển đổi số tại các xã, phường trong giai đoạn đầu vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp”; Văn bản số 4369/UBND-ĐMPT ngày 31/7/2025 của UBND Thành phố; Công văn 5335/UBND-ĐMPT ngày 01/10/2025 về việc đẩy nhanh tiến độ triển khai nhiệm vụ Phong trào “Bình dân học vụ số” trên địa bàn Thành phố.
Đồng thời, thành phố Hà Nội phát động phong trào “Bình dân học vụ số” với mục tiêu: “Thành phố Hà Nội - Bình dân học vụ số - Toàn dân, toàn diện, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới” nhằm triển khai sâu, rộng phong trào đến tận thôn, tổ dân phố, khu dân cư, tạo nên một cuộc vận động toàn dân thi đua học tập, rèn luyện kỹ năng số, khả năng sử dụng các thiết bị và ứng dụng số.
Phong trào sẽ giúp người dân trên địa bàn tiếp cận các nền tảng số, nền tảng "Bình dân học vụ số", các ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (AI) cơ bản hỗ trợ theo nhu cầu. Đây cũng là nền tảng quan trọng để hình thành Chính phủ số, xã hội số, kinh tế số, công dân số theo Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Nhiều mô hình về học tập “Bình dân học vụ số” được triển khai ở các địa phương như xã Xuân Mai với các Điểm “Bình dân học vụ số lưu động”, bố trí thiết bị, nhân lực và hạ tầng kỹ thuật, ưu tiên hỗ trợ người cao tuổi, người khuyết tật, hộ nghèo, cận nghèo13; xã Bình Minh với “lớp học số hóa”; với tinh thần “mỗi ngày làm việc là một ngày kiến tạo”, phường Thanh Xuân phát động phong trào "Bình dân học vụ số" triển khai hướng dẫn, tập huấn, “cầm tay chỉ việc” cho người cao tuổi, người dân chưa quen công nghệ để "không ai bị bỏ lại phía sau" trong quá trình chuyển đổi số toàn diện14; xã Đông Anh đã phát động phong trào và triển khai Hội thi “Ứng dụng công nghệ AI trong trường học”, năm học 2025-2026” với chủ đề “Đông Anh - Bình dân học vụ số - Toàn dân đồng hành - Chuyển đổi số toàn diện” và các mô hình “Tuyến phố 4.0”, “Chợ 4.0”; nông nghiệp thông minh, “Chợ số - Nông thôn số” hay Mạng lưới “Đại sứ số”15…
Bên cạnh đó, Hà Nội triển khai gắn xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời với các phong trào thi đua yêu nước; gắn phong trào “Cả nước thi đua xây dựng xã hội học tập, đẩy mạnh học tập suốt đời”; với các phong trào “Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”; “Thực hiện chuyển đơn vị sự nghiệp công lập sang tự chủ tài chính trên địa bàn Thành phố Hà Nội”…; gắn xây dựng xã hội học tập với yêu cầu nhiệm vụ chính trị và những mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội của Thủ đô.
Qua đó, đã động viên, khơi dậy, phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, ý chí tự lực tự cường và tạo động lực, nhân tố mới trong cán bộ, công chức, viên chức, Nhân dân. Góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tăng cường quốc phòng – an ninh của Thành phố.
Với quyết tâm cao của Đảng bộ, chính quyền thành phố Hà Nội và sự đồng lòng của nhân dân,việc thực hiện xây dựng các mô hình “Gia đình học tập”, “Dòng họ học tập”, “Cộng đồng học tập”, “Đơn vị học tập” đã đi vào thực chất và từng bước được nhân rộng. Hàng năm, kết quả các mô hình học tập đều đạt và vượt chỉ tiêu định hướng của Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam giao. Đến tháng 6/2025, tỷ lệ “Gia đình học tập” đạt 75,02%, “Cộng đồng học tập” đạt 82,47%, “Đơn vị học tập” đạt 95,71.
Từ năm 2021, Hà Nội thí điểm xây dựng mô hình “Công dân học tập” ở 24 đơn vị; kết quả có 4.047 người được công nhận đạt “Công dân học tập” đầu tiên. Từ năm 2022, triển khai đại trà theo Quyết định số 677/QĐ-TTg ngày 03/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ, đến tháng 6/2025, tỷ lệ “Công dân học tập” đạt 45,98% và “Công dân học tập” được công nhận đạt kỹ năng số đạt 62,53%16.
Hoạt động của Hội khuyến học ngày càng được mở rộng, đến tháng 6/2025, tổ chức Hội đã phủ kín 100% các quận, huyện, thị xã; xã, phường, thị trấn và ở hầu hết các trường phổ thông, 44 trường đại học, cao đẳng đều có Ban Khuyến học. Trong những năm 2021-2025, các cấp Hội đã thành lập mới được 287 Chi hội và 494 Ban Khuyến học; phát triển mới 691.101 hội viên, nâng số hội viên toàn thành phố Hà Nội là 1.965.746 và đạt tỷ lệ 23,59% so với tổng số dân trên địa bàn Thủ đô. Đặc biệt, đã có 253.410 đảng viên là hội viên khuyến học, đạt tỷ lệ 52,64% tổng số đảng viên toàn Đảng bộ thành phố Hà Nội17.
Hà Nội cũng là đơn vị đầu tiên trong cả nước hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học từ năm 1990, trung học cơ sở năm 1999 và là một trong 4 địa phương đầu tiên của cả nước được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở mức độ 3 (năm 2024)18.
Những kết quả trên ghi nhận sự nỗ lực của toàn Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hà Nội hướng tới xây dựng “Thành phố học tập toàn cầu” của UNESCO.
Tuy nhiên, xây dựng xã hội học tập tại Hà Nội cũng còn một số khó khăn, thách thức đó là: nhận thức của một bộ phận người dân, nhất là ở vùng ngoại thành, vẫn coi học chỉ dành cho lứa tuổi đi học, chưa thấy rõ lợi ích của học tập suốt đời; một số cán bộ, doanh nghiệp và tổ chức xã hội còn coi hoạt động học tập cộng đồng là “phụ”, chưa đầu tư đúng mức.
Mặc dù Hà Nội có mạng lưới trung tâm học tập cộng đồng ở hầu hết xã, phường, nhưng nhiều nơi còn thiếu phòng học, trang thiết bị, tài liệu học tập số; Hạ tầng công nghệ thông tin giữa khu vực nội thành và ngoại thành chênh lệch khá lớn, gây khó khăn cho việc tổ chức các lớp học trực tuyến, học mở. Bên cạnh đó, nguồn lực tài chính và nhân lực còn hạn chế. Kinh phí dành cho hoạt động học tập suốt đời chủ yếu dựa vào ngân sách địa phương, trong khi nguồn xã hội hóa chưa mạnh. Đội ngũ cán bộ phụ trách công tác giáo dục thường xuyên và trung tâm học tập cộng đồng nhiều nơi kiêm nhiệm, chưa được bồi dưỡng kỹ năng tổ chức, quản lý chương trình học tập cộng đồng.
Đặc biệt, thách thức của chuyển đổi số trong giáo dục, việc ứng dụng công nghệ số trong học tập suốt đời còn chậm, nhất là ở người cao tuổi hoặc người lao động phổ thông; thiếu các nền tảng học tập trực tuyến thân thiện, dễ dùng cho cộng đồng dân cư; đồng thời, kho nội dung học liệu mở, tài nguyên số của Hà Nội vẫn còn hạn chế. Trong khi đó, nhu cầu học tập, nghề nghiệp, kỹ năng mới thay đổi nhanh trong thời đại chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo. Đồng thời, cạnh tranh lao động cao khiến nhiều người lao động ít thời gian và động lực cho việc học tập suốt đời.
Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các ngành, tổ chức còn chưa chặt chẽ. Một số địa phương, cơ quan chưa có cơ chế phối hợp rõ ràng trong việc triển khai các mô hình “Công dân học tập”, “Cộng đồng học tập”, “Đơn vị học tập”.
Để đạt được mục tiêu theo Nghị quyết số 23-NQ/TU, ngày 16/11/2023 của Thành ủy, Hà Nội cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức về học tập suốt đời. Đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về ý nghĩa, lợi ích của việc học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập. Xây dựng hình ảnh “Công dân Thủ đô học tập suốt đời”, gắn với phong trào thi đua, cuộc vận động của các tổ chức chính trị – xã hội. Đồng thời, lồng ghép nội dung học tập suốt đời vào chương trình giáo dục phổ thông, đào tạo nghề, sinh hoạt chi bộ, tổ dân phố, doanh nghiệp.
Thứ hai, phát triển hệ thống cơ sở học tập suốt đời hiện đại, linh hoạt. Củng cố, nâng cấp các Trung tâm học tập cộng đồng và Trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên xây dựng mô hình “Trung tâm học tập suốt đời thông minh”. Bên cạnh đó, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển các nền tảng học tập số, học liệu mở, tạo điều kiện cho mọi người học mọi lúc, mọi nơi, bằng việc kết nối các cơ sở giáo dục, thư viện, bảo tàng, nhà văn hóa, doanh nghiệp thành mạng lưới học tập toàn thành phố.
Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục và học tập suốt đời thông qua phát triển nền tảng học trực tuyến dùng chung của thành phố, khuyến khích xây dựng kho dữ liệu học tập mở.
Thứ tư, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Đa dạng hóa nguồn tài chính cho xây dựng xã hội học tập: ngân sách nhà nước, xã hội hóa, hợp tác công – tư (PPP). Đồng thời, khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cá nhân tham gia tài trợ, đồng hành trong hoạt động giáo dục, đào tạo nghề, học tập cộng đồng. Đẩy mạnh vận động, khuyến khích đội ngũ trí thức tài năng là người Việt Nam ở nước ngoài tham gia đóng góp vào hoạt động khuyến học, khuyến tài và xây dựng xã hội học tập trên đọa bàn thành phố Hà Nội.
Thứ năm, tăng cường phối hợp liên ngành và đánh giá kết quả học tập suốt đời. Thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ngành, đoàn thể trong tổ chức và kiểm tra, đánh giá mô hình học tập suốt đời.Xây dựng hệ thống theo dõi, đánh giá, công nhận và tôn vinh các điển hình tiên tiến trong phong trào học tập suốt đời.
Thứ sáu, thu hẹp khoảng cách cơ hội học tập giữa các nhóm dân cư. Thành phố Hà Nội tiếp tục quan tâm hỗ trợ người nghèo, người khuyết tật, lao động nhập cư, người cao tuổi được tiếp cận các chương trình học tập linh hoạt, phù hợp. Đầu tư cơ sở hạ tầng học tập cho các xã ngoại thành, vùng ven đô.Đưa các lớp kỹ năng sống, kỹ năng nghề, kỹ năng số về với cộng đồng dân cư, cụm dân phố.
Thứ bảy, đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế trong giáo dục thông qua tăng cường trao đổi, học hỏi mô hình xây dựng xã hội học tập của các thủ đô và thành phố lớn trên thế giới. Mở rộng hợp tác với các tổ chức quốc tế như UNESCO, UNICEF, JICA... trong phát triển học tập suốt đời và học tập số.
Với tinh thần “Thành phố Hà Nội - Bình dân học vụ số - Toàn dân, toàn diện, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới”, hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10/2025), thành phố Hà Nội phát động phong trào Học tập số toàn dân nhằm nâng cao nhận thức của người dân, tổ chức và doanh nghiệp về vai trò quan trọng của chuyển đổi số trong phát triển Thủ đô và đất nước, đồng thời thúc đẩy phong trào học tập số thường xuyên, liên tục để phổ cập, nâng cao kiến thức về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và các kỹ năng số cơ bản cho cán bộ, công chức và Nhân dân; đồng thời, nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị và cá nhân trong việc tổ chức triển khai các Kế hoạch của Trung ương và thành phố về việc thực hiện phong trào "Bình dân học vụ số"; thúc đẩy, phát triển, kết nối, khai thác dữ liệu số để tạo ra giá trị mới trong hoạt động của cơ quan nhà nước phục vụ người dân và doanh nghiệp. Đây cũng là thông điệp của thành phố Hà Nội trong xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời.
Hà Nội tiếp tục phát huy truyền thống hiếu học, chuyển từ xóa mù chữ thông qua phong trào bình dân học vụ sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công (năm 1945), sang “xóa mù số”, từ học tập thông thường sang học tập suốt đời, học tập kỹ năng mới. Xây dựng xã hội học tập trong thời đại số là con đường tất yếu để Thủ đô phát triển bền vững, sáng tạo, công bằng, đồng thời, thể hiện tinh thần “thành phố học tập”, góp phần đưa Hà Nội trở thành thành phố học tập toàn cầu theo định hướng UNESCO./.
2 Báo Cứu quốc, số 238, ngày 13/5/1946.
3 Báo Cứu quốc 243, 247, 248, ngày 18, 23, 24.5.1946; Báo Cứu quốc 318, ngày 13.8.1946, Báo Dân quốc số 405, ngày 8.12.1946).
4 (Báo Độc lập số 148, ngày 17.5.1946)
5 (Báo Độc lập số 148, ngày 17.5.1946)
6 Báo Độc lập số 148, ngày 17.5.1946)
7 Theo kết quả được tổng kết từ công tác đăng ký hộ khẩu toàn thành phố diễn ra từ ngày 18-9-1955 đến ngày 26-11-1955 (báo cáo ngày 13-12-1955), trên địa bàn thành phố Hà Nội (Lưu trữ Thành ủy, Cặp 115, Hồ sơ 750, tr. 13-15):
- Bậc đại học: có 1.834 người trình độ đại học (1.668 nam và 166 nữ), Số đã tốt nghiệp là 585 người (542 nam và 43 nữ), trong đó Tiến sỹ Văn khoa có 9 người (9 nam), Tiến sỹ Luật khoa có 24 người (23 nam, 1 nữ) và Tiến sỹ Khoa học có 9 người (9 nam); bậc Cử nhân Văn khoa có 62 người (57 nam, 5 nữ), Cử nhân Luật khoa có 79 người (79 nam) và Cử nhân Khoa học có 35 người (34 nam, 1 nữ); Cao đẳng, sư phạm cao cấp có 141 người (124 nam, 17 nữ); Bác sỹ, y sỹ, dược sỹ 161 người (142 nam, 19 nữ); Kỹ sư có 65 (65 nam); tương đương đại học: 198 người (183 nam, 15 nữ). Số người đang theo học cấp đại học có 1.051 người (943 nam, 108 nữ), gồm: Cao đẳng sư phạm 162 người (137 nam, 25 nữ), Luật khoa 2 người (1 nam, 1 nữ), Y dược khoa 416 người (358 nam, 58 nữ), Văn khoa 192 người (178 nam, 14 nữ) và Khoa học 279 người (269 nam, 10 nữ)
- Bậc trung học: tổng số có 33.737 người trình độ Trung học (26.543 nam, 7.194 nữ). Số đã tốt nghiệp 3.523 người (3.009 nam, 514 nữ), gồm: Tú tài lớp 9 là 612 người (539 nam, 72 nữ), Tú tài phân ban lớp 8 là 436 người (391 nam, 45 nữ), Trung học phổ thông lớp 7 là 2.206 người (1.825 nam, 381 nữ), Trường chuyên nghiệp 270 người (254 nam, 16 nữ), tương đương trung học 12.353 người (10.075 nam, 2.278 nữ). Số hiện đang theo học cấp trung học 17.861 người (13.459 nam, 4.402 nữ), gồm: Phổ thông cấp 3 là 3.121 người (2.485 nam, 636 nữ), Phổ thông cấp 2 là 10.516 người (7.369 nam, 3.147 nữ), Các trường chuyên nghiệp 2.977 người (2.488 nam, 489 nữ), Đại học Nhân dân 1.247 người (1.117 nam, 130 nữ)
- Bậc tiểu học: tổng số 75.741 người (47.268 nam, 28.475 nữ). Số đã tốt nghiệp 10.471 người (7.785 nam, 2.936 nữ), tương đương sơ cấp 34.024 người (21.710 nam, 12.314 nữ). Số hiện đang theo học tiểu học phổ thông cấp 1 31.246 người (18.073 nam, 13.173 nữ). Dẫn theo: https://tapchilichsudang.vn/vai-net-ve-giao-duc-o-ha-noi-nhung-nam-dau-sau-giai-phong-thu-do-1954-1958.html Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng (in) số 5/2016
8 Lưu trữ Thành ủy, Cặp 115, Hồ sơ 750, tr.13-15
9 Lưu trữ Thành ủy, Cặp 64, Hồ sơ 62, tr. 39-40
10 Lưu trữ Thành ủy, Cặp 64, Hồ sơ 65, tr. 94-95
11 Quyết định số 1373/QĐ-TTg ngày 30/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021-2030” và Quyết định số 1315/QĐ-TTg ngày 09/11/2023 ban hành Kế hoạch triển khai phong trào “Cả nước thi đua xây dựng xã hội học tập, đẩy mạnh học tập suốt đời giai đoạn 2023-2030”.
12 https://thanhuyhanoi.vn/tin-tuc/chinh-tri/thanh-uy-ha-noi-de-ra-9-nhiem-vu-va-giai-phap-trong-tam-trong-thuc-hien-cong-tac-khuyen-hoc-khuyen-tai-xay-dung-xa-hoi-hoc-tap-10033985.html
13 https://nhandan.vn/day-manh-phong-trao-binh-dan-hoc-vu-so-post901785.html, ngày 18/8/2025.
14 https://kinhtedothi.vn/thanh-xuan-sang-tao-lan-toa-phong-trao-binh-dan-hoc-vu-so.761617.html, ngày 07/07/2025.
15 https://hanoi.gov.vn/tin-dia-phuong/xa-dong-anh-phan-dau-tro-thanh-diem-sang-trong-phong-trao-binh-dan-hoc-vu-so-cua-thu-do-va-ca-nuoc-4250810104023955.htm, ngày 10/8/2025
16 https://kinhtedothi.vn/phong-trao-khuyen-hoc-khuyen-tai-xay-dung-xa-hoi-hoc-tap-cua-ha-noi-co-buoc-phat-trien-moi.740230.html?utm_source=chatgpt.com
17 https://kinhtedothi.vn/phong-trao-khuyen-hoc-khuyen-tai-xay-dung-xa-hoi-hoc-tap-cua-ha-noi-co-buoc-phat-trien-moi.740230.html?utm_source=chatgpt.com
18 https://nvsk.vnanet.vn/70-nam-giai-phong-thu-do-nganh-giao-duc-thu-do-la-co-dau-cua-ca-nuoc-1-154013.vna