Hội thảo

Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh - yêu cầu tất yếu với Hà Nội và Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Anh Tuấn 23/12/2025 15:27

Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất năm 1992 tại Rio de Janeiro (Brazil) lần đầu tiên đặt vấn đề phát triển bền vững một cách nghiêm túc trước toàn thế giới khi thông qua nhiều văn bản quan trọng về môi trường, phát triển bảo vệ rừng và các công ước biến đổi khí hậu, đa dạng sinh học. Tuy nhiên, trong suốt hơn 30 năm qua, những lời cảnh báo ấy đôi lúc chưa được cân nhắc kỹ lưỡng trong quá trình ra quyết định hoặc còn xem xét một cách hình thức.

Thay vì hành động, nhân loại vẫn tiếp tục khai thác cạn kiệt tài nguyên, phát triển thiếu kiểm soát, thậm chí nhiều tổ chức, doanh nghiệp đã thực hiện “Chiến lược” “Giả xanh” (greenwashing) để lừa dối cả thế giới: “Giả xanh” là khi các doanh nghiệp, tổ chức cố tình tuyên bố sản phẩm, hoạt động hoặc chiến lược của mình thân thiện với môi trường, trong khi thực tế không như vậy, nhằm đánh bóng hình ảnh hoặc thu hút đầu tư. Một số vụ việc “Giả xanh” lớn bị phát hiện như:

• Hãng xe ô tô Volkswagen (Đức): Năm 2015, hãng bị phát hiện sử dụng phần mềm gian lận để vượt qua kiểm tra khí thải tại Mỹ - sự kiện này còn gọi là “Dieselgate”. Công ty quảng cáo xe thân thiện môi trường trong khi phát thải NOx gấp 40 lần tiêu chuẩn cho phép.

• Tập đoàn bán lẻ thời trang đa quốc gia H&M (Thuỵ Điển): Hãng thời trang nhanh này từng quảng cáo dòng sản phẩm “Conscious Collection” là bền vững, nhưng bị cáo buộc không minh bạch nguồn gốc vật liệu và không đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường thực sự. Một số chiến dịch đã bị các tổ chức giám sát môi trường điều tra.

• Tập đoàn năng lượng đa quốc gia của của Anh British Petroleum (BP): Dù tuyên bố chuyển hướng năng lượng tái tạo, BP vẫn duy trì đầu tư lớn vào dầu khí, và từng bị lên án vì các chiến dịch truyền thông “xanh” nhưng hành động thực tế không đổi mới rõ rệt.

Và chính những hành động thiếu trách nhiệm đó trong nhiều năm đã đẩy Trái Đất tới giới hạn không thể hồi phục.

Năm 2024 đã khép lại, nhưng dư chấn của nó đối với khí hậu toàn cầu vẫn còn rung lên trong từng báo cáo khoa học, từng bản tin thời sự, và trong mỗi người đang sống trên hành tinh này. Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, tất cả các châu lục cùng lúc hứng chịu thiên tai nghiêm trọng trong cùng một khoảng thời gian ngắn như siêu bão Yagi; lũ lụt lịch sử hoành hành ở Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ và Bulgaria; cháy rừng lan rộng ở Canada và Địa Trung Hải; hạn hán cực đoan ở vùng Sừng châu Phi; và kỷ lục nhiệt độ phá vỡ liên tiếp ở Nam Âu, Trung Đông và Bắc Mỹ.

Theo báo cáo thường niên của Munich Re [1], các thảm họa thiên nhiên trong năm 2024 đã gây thiệt hại kinh tế tổng cộng khoảng 320 tỷ USD, tăng một phần ba so với năm trước. Trong đó, khoảng 140 tỷ USD được bảo hiểm, đánh dấu một trong những năm tốn kém nhất đối với ngành bảo hiểm kể từ năm 2017. Còn theo số liệu từ Statista (Hamburg, Đức) cho thấy, khoảng 18.100 người đã thiệt mạng do các thảm họa thiên nhiên trong năm 2024, con số này vẫn có thể tăng lên ở những năm tiếp theo khi biến đổi khí hậu diễn ra phức tạp và khó lường.

Bão Helene với sức gió lên tới 225km/h (tương đương cấp 4 trên thang đo Saffir-Simpson tại Hoa Kỳ) gây thiệt hại khoảng 75 tỷ USD và khiến 243 người thiệt mạng; Siêu bão Yagi tại Đông Nam Á cũng được cho là mạnh nhất trong 70 năm qua, đã tàn phá Việt Nam gây lũ lụt và lở đất nghiêm trọng. Bão cũng ảnh hưởng đến Philippines, Trung Quốc, Lào, Thái Lan và Myanmar, khiến hơn 800 người thiệt mạng và thiệt hại kinh tế khoảng 14 tỷ USD, trong đó chỉ có 1,6 tỷ USD được bảo hiểm.

Cháy rừng tại Canada thiêu rụi 13,29 triệu mẫu Anh (tương đương 5,38 triệu héc-ta); lũ lụt tại Tây Phi từ tháng 6 đến tháng 9 xảy ra tại nhiều quốc gia bao gồm Nigeria, Niger và Chad khiến hơn 1.500 người thiệt mạng và hàng trăm nghìn người phải di dời. Biến đổi khí hậu đã gây ra những hiện tượng thời tiết cực đoan, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp trên toàn cầu, cụ thể: tại Pháp mưa lớn bất thường đã dẫn đến giảm sản lượng lúa mì từ 30-40%, ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng thực phẩm; Brazil hạn hán nghiêm trọng ảnh hưởng đến 59% diện tích đất nước, gây thiệt hại lớn cho ngành nông nghiệp và đe dọa an ninh lương thực. Các nhà khoa học thuộc Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) và Liên hợp quốc đã gọi năm 2024 là “năm của giới hạn khí hậu bị phá vỡ”, khi hàng loạt chỉ số từ nhiệt độ trung bình toàn cầu, nồng độ CO₂, diện tích băng tan đều vượt qua các mốc chưa từng có tiền lệ.

Bước sang năm 2025, tình hình khí hậu toàn cầu không có dấu hiệu hạ nhiệt, thậm chí còn nghiêm trọng hơn khi hiệu ứng El Niño kéo dài sang nửa đầu năm. Tính đến tháng 10/2025, WMO ghi nhận nhiệt độ trung bình toàn cầu cao hơn 1,6°C, với hàng loạt hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra trên diện rộng. Bão Trevor (2025) tại khu vực Caribbean đạt cấp 5 với sức gió 260 km/h, khiến hơn 300 người thiệt mạng tại Cuba và Haiti, gây thiệt hại ước tính 50 tỷ USD.

Úc trải qua đợt nắng nóng lịch sử, với nhiệt độ vượt 49°C tại nhiều vùng ở Queensland và Nam Úc; cháy rừng lan rộng thiêu hủy hơn 4.000 ngôi nhà, buộc chính phủ phải ban bố tình trạng khẩn cấp quốc gia. Tây Âu tiếp tục chịu mưa lớn bất thường: Đức, Áo và Hà Lan đều có lượng mưa cao gấp 2–3 lần trung bình nhiều năm, khiến mực nước sông Rhine và Danube dâng cao, ảnh hưởng đến vận tải thủy và sản xuất công nghiệp.

Nằm trong top 10 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu (theo Chỉ số Rủi ro Khí hậu Toàn cầu của Germanwatch), Việt Nam bước vào năm 2025 với hàng loạt hiện tượng thời tiết cực đoan. Lũ quét tại miền núi phía Bắc (tháng 7/2025): mưa lớn kỷ lục tại Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang khiến 36 người chết và mất tích, nhiều tuyến giao thông huyết mạch bị chia cắt; sạt lở nghiêm trọng trên quốc lộ 279 và 70.

Riêng trong tháng 9/2025, do bão số 10 (và mưa lớn sau bão): có 56 người chết, 11 người mất tích, khoảng 179.881 nhà hư hỏng hoặc tốc mái, thiệt hại tài sản khoảng 18.803 tỷ đồng. Cơn bão số 13 tính đến sáng 9/11/2025 đã gây thiệt hại sơ bộ khoảng 7.050 tỷ đồng, với 6 người chết, 35 người bị thương; hơn 32.174 nhà bị hư hỏng; hàng chục ngàn lồng bè nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại. Hạn mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long: độ mặn xâm nhập sâu 70–90 km vào đất liền, cao hơn trung bình nhiều năm, ảnh hưởng tới 50.000 ha lúa và 20.000 ha cây ăn quả.

Sạt lở bờ biển tại miền Trung: hơn 30 điểm sạt lở nghiêm trọng tại Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định, đe dọa nhiều khu dân cư ven biển. Tổng cộng, trong 10 tháng đầu năm 2025, Việt Nam đã ghi nhận 18 đợt thiên tai lớn, khiến gần 200 người thiệt mạng hoặc mất tích, thiệt hại vật chất ước tính trên 1,6 tỷ USD – tương đương 0,35% GDP [Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2025].

Thành phố Hà Nội trong năm 2025 cũng đã phải trải qua nhiều đợt mưa lớn, ngập lụt nghiêm trọng do ảnh hưởng của các cơn bão và hoàn lưu mưa lớn. Tháng 8/2025, do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 5 (bão Kanji), lượng mưa vượt mức 460mm, nhiều tuyến phố ngập sâu. Tháng 10/2025, hoàn lưu bão Matmo gây mưa lớn khiến Hà Nội ngập 122 điểm, gần 30 tuyến đường tê liệt, 3.300 hộ dân (hơn 10.500 người) ở Hà Nội bị ảnh hưởng bởi ngập nước, các xã ngập nặng đã sơ tán gần 8.500 người dân.

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Hà Nội, hoàn lưu sau bão số 10, 11 gây mưa lớn trên diện rộng, kết hợp với xả lũ của hệ thống hồ thủy điện thượng nguồn đã làm cho nước lũ của hầu hết các tuyến sông trên địa bàn Thành phố lên rất nhanh và ở mức cao, gây ra đợt ngập lụt nghiêm trọng đặc biệt là khu vực sông Bùi, sông Tích, sông Cầu, sông Cà Lồ. Khoảng 15.000 ngôi nhà bị ngập nước, trên 6.000 ha lúa, trên 2.000 ha rau màu bị ảnh hưởng, trên 4.000 con gia súc, trên 8.000 con gia cầm bị chết, trên 500 ha nuôi trồng thủy sản bị ảnh hưởng; giá trị thiệt hại do sự cố công trình ước tính trên 150 tỷ đồng, tổng thiệt hại toàn thành phố ước tính trên 600 tỷ đồng.

Năm 2024 - 2025 đã chứng kiến sự gia tăng cả về tần suất và mức độ nghiêm trọng của các thảm họa thiên nhiên trên toàn cầu, gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Những số liệu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường các biện pháp thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu, cũng như nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng trước các hiện tượng thời tiết cực đoan trong tương lai.

Khi những bằng chứng khoa học không còn “im lặng” nữa, biến đổi khí hậu là sự thật không thể chối cãi, chúng ra cần nhận thức được không một hiện tượng tự nhiên đơn lẻ nào là ngẫu nhiên, những chuỗi dữ kiện kéo dài, tích tụ và ngày một cực đoan đang tạo nên một mô hình nhất quán, đó là “Hệ thống khí hậu toàn cầu đang mất ổn định”.

Dưới đây là những con số mà nhân loại chúng ta đã tạo ra:

• Nhiệt độ trung bình toàn cầu năm 2024 vượt ngưỡng 1,5°C so với thời kỳ tiền công nghiệp, lần đầu tiên trong lịch sử ghi nhận hiện tượng này suốt 12 tháng liên tục (dữ liệu từ Copernicus Climate Change Service, 2024).

• Lượng CO₂ trong khí quyển đạt mức 423 ppm, mức cao nhất trong 2 triệu năm qua (theo khảo cổ học khí hậu); Hơn 36 tỷ tấn CO₂ thải ra mỗi năm chủ yếu từ nhiên liệu hóa thạch.

• Mực nước biển dâng nhanh gấp đôi so với dự báo IPCC cách đây 10 năm (2014), do tốc độ tan băng tại Greenland và Nam Cực tăng vọt (dữ liệu từ NASA & NOAA, 2018).

• 85% diện tích đất ngập nước trên hành tinh đã biến mất (theo báo cáo Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP)). Hơn 1/3 dân số thế giới hiện đang sống tại những khu vực thiếu nước sạch nghiêm trọng (Báo cáo IPCC, 2000).

• Trên 1 triệu loài động, thực vật có nguy cơ tuyệt chủng trong vài thập kỷ tới nếu xu hướng suy giảm môi trường tiếp tục (Báo cáo IPBES, 2019).

Những con số ấy không còn là cảnh báo mà là bằng chứng sống động cho một sự thật tàn nhẫn: Trái Đất đang nóng lên mà trong đó nguyên nhân vô cùng lớn do con người đã tác động vào quá trình vận động theo quy luật tự nhiên của hành tinh này bằng sự phát triển nóng thiếu bền vững của mình. Chúng ta không thể tiếp tục tự lừa dối mình bằng những cam kết mang tính biểu tượng nhiều hơn hành động.

Những hội nghị khí hậu quy mô toàn cầu nhưng sau đó là sự yếu ớt về tính thực thi hay những chiến lược “phát triển xanh” nhưng chỉ mang tính khẩu hiệu, bản chất vẫn tác động và xả thải làm tổn thương sinh thái. Một trong những nguyên nhân lớn của tình trạng này bên cạnh phát thải khí nhà kính chính là sự can thiệp thái quá và thiếu kiểm soát vào các hệ sinh thái tự nhiên, đặc biệt là các lưu vực sông, rừng và vùng đất ngập nước. Tại nhiều quốc gia (trong đó có Việt Nam), trong một giai đoạn nhất định của phát triển đã buộc phải lựa chọn phát triển ồ ạt của thủy điện lớn nhỏ nhằm đáp ứng nguồn năng lượng và phục vụ tăng trưởng.

Điều đó là tất yếu bởi khi đó trình độ phát triển khoa học - công nghệ và tiềm lực kinh tế chưa đủ để phát triển điện hạt nhân và năng lượng tái tạo ít ảnh hưởng tới môi trường như điện gió, năng lượng mặt trời, điện sóng biển, sinh khối. Vì vậy hàng trăm công trình thủy điện đã được xây dựng dọc các lưu vực sông làm cho hàng trăm nghìn ha rừng (đa số là rừng nguyên sinh) bị chặt bỏ để lấy đất cho hồ chứa và hạ tầng hoặc bị ngập nước do thay đổi dòng chảy, một vùng sinh thái rộng lớn hàng trăm ha bị biến đổi do ngập nước hoặc mực nước ngầm dâng lên cao làm biến đổi thảm thực vật, đút gãy chuỗi thức ăn, làm mất nơi cư trú của nhiều loài thủy sinh, chim di cư, làm giảm đa dạng sinh học, lưu lượng dòng chảy tự nhiên bị thay đổi mạnh mẽ, gây thay đổi cực đoan ở hạ lưu, thiếu nước mùa khô, và làm trầm trọng hơn nguy cơ lũ quét mùa mưa, làm cho lũ ống lũ quét và sạt lở đất trở nên tàn khốc hơn nhiều.

719-202512231515491.jpeg

Biểu đồ: Thiệt hại kinh tế do thiên tai theo khu vực (2024)

Theo Munich Re, *Natural disaster figures for 2024* (2025), Munich Re Publications, Munich (1)

719-202512231515492.jpeg

Biểu đồ: Lượng phát thải CO₂ toàn cầu theo thập kỷ

Theo: Intergovernmental Panel on Climate Change (IPCC), *Sixth Assessment Synthesis Report (AR6)* (2023), IPCC, Geneva.

Nguyên nhân biến đổi khí hậu

Nguyên nhân cốt lõi là do hiệu ứng nhà kính mà trong đó có sự “đóng góp” vô cùng tích cực của nhân loại, làm phát thải khí CO₂ vượt ngưỡng, phát triển công nghiệp ồ ạt mà ít quan tâm tới tác động môi trường hoặc đánh giá tác động môi trường thiếu nghiêm túc dẫn tới nước thải công nghiệp và sinh hoạt không được xử lý triểt để, thậm chí chưa được xỷ lý xả thải trực tiếp ra môi trường; hàng triệu phương tiện giao thông chủ yếu sử dụng động cơ đốt trong, nhiên liệu hóa thạch làm cho lượng phác thải khí nhà kính không ngừng tăng theo từng năm.

Trước thực trạng đó, Hội nghị COP28 tại Dubai (2023) đã đưa ra thông điệp khẩn cấp: nhân loại cần đạt phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) trước năm 2050. Các nước cam kết chuyển đổi năng lượng, loại bỏ than đá, thúc đẩy năng lượng tái tạo, cắt giảm khí methane và tăng cường tài chính khí hậu. Tuy nhiên, nếu những cam kết này không sớm được hiện thực hóa bằng hành động cụ thể, thế giới sẽ vượt qua các điểm tới hạn không thể đảo ngược.

Vai trò chiến lược của chuyển đổi số trong kỷ nguyên phát triển bền vững

Chuyển đổi số không chỉ là một quá trình áp dụng công nghệ vào hoạt động sản xuất - kinh doanh, mà còn là một cuộc cách mạng toàn diện trong tư duy, mô hình tổ chức và phương thức quản trị của xã hội hiện đại. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững, chuyển đổi số trở thành trụ cột chiến lược để đạt được tăng trưởng xanh, kinh tế carbon thấp và xã hội tuần hoàn.

Các quốc gia phát triển trên thế giới đang tích cực triển khai các sáng kiến chuyển đổi số gắn với mục tiêu khí hậu. Liên minh châu Âu (EU) đã đề ra chương trình “Chuyển đổi kép” (twin transition) - tích hợp giữa chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, xem đây là động lực kép thúc đẩy tăng trưởng chất lượng cao. Tại Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, nhiều chính sách công và đầu tư công nghệ đang được điều chỉnh để phục vụ các mục tiêu giảm phát thải, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường thông qua dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo (AI), blockchain và Internet vạn vật (IoT).

Tăng trưởng toàn cầu về Chính phủ số (Digital Government): Theo Báo cáo Khảo sát Chính phủ Điện tử 2024 của Liên Hợp Quốc, đã có sự gia tăng đáng kể trong phát triển chính phủ số trên toàn thế giới, với việc tăng cường đầu tư vào hạ tầng số bền vững và ứng dụng các công nghệ mới nổi. Dưới đây là 5 quốc gia đứng đầu thế giới về phát triển chính phủ số (e-government) theo Báo cáo E-Government Development Index 2022 của Liên hợp quốc (UN EGDI) – là bảng xếp hạng chính thức và toàn diện nhất hiện nay: 1- Đan Mạch với điểm FGDI 0,9712, 2 – Phần Lan với EGDI laf 0,9544, 3- Hàn Quốc với điểm EGDI là 0,9515, 4 - New Zealand với EGDI là 0,9512, 5- Thuỵ Điển có EGDI là 0,9465. (E-Government Development Index) được tổng hợp từ: OSI: Chỉ số dịch vụ trực tuyến (Online Services Index), TII: Cơ sở hạ tầng viễn thông (Telecommunication Infrastructure Index), HCI: Chỉ số nhân lực – giáo dục số (Human Capital Index).

Các quốc gia Bắc Âu luôn giữ vững vị trí đầu bảng nhờ chiến lược chính phủ mở, dịch vụ chủ động, số hóa toàn diện. Hàn Quốc là nước châu Á duy nhất trong top 5 – nổi bật với nền tảng chính phủ số tích hợp AI, dữ liệu lớn và dịch vụ công cá nhân hóa (Gov 4.0). Việt Nam hiện nằm trong nhóm “EGDI cao” (~0.6667), xếp hạng 86/193 quốc gia (theo UN 2022)

Quy mô toàn cầu: Kinh tế số và Tỷ trọng trong GDP: Dự báo cho thấy kinh tế số toàn cầu sẽ đạt 16,5 nghìn tỷ USD và chiếm 17% GDP toàn cầu vào năm 2028.

Tăng trưởng thương mại điện tử: Dữ liệu từ 43 quốc gia, chiếm khoảng ba phần tư GDP toàn cầu, cho thấy doanh số thương mại điện tử doanh nghiệp đã tăng gần 60% từ năm 2016 đến 2022, đạt 27 nghìn tỷ USD.

Các lĩnh vực chuyển đổi số mạnh mẽ:

• Công nghệ thông tin (CNTT): Dẫn đầu trong việc áp dụng chuyển đổi số, với việc tích hợp các công nghệ mới để cải thiện hiệu suất và dịch vụ.

• Truyền thông và giải trí: Chuyển đổi mạnh mẽ sang các nền tảng kỹ thuật số để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội dung trực tuyến ngày càng tăng.

• Tài chính và Bảo hiểm: Sử dụng công nghệ số để cải thiện dịch vụ khách hàng, quản lý rủi ro và phát triển các sản phẩm tài chính mới.

• Dịch vụ chuyên nghiệp: Tận dụng các công cụ số để nâng cao hiệu quả và cung cấp dịch vụ tư vấn, pháp lý và kế toán hiệu quả hơn.

• Trí tuệ nhân tạo (AI) và Học máy (ML): Sẽ được tích hợp sâu rộng vào các hoạt động kinh doanh, cải thiện việc ra quyết định và tự động hóa quy trình.

• Internet vạn vật (IoT): Sự gia tăng của các thiết bị kết nối sẽ cung cấp dữ liệu thời gian thực, hỗ trợ tối ưu hóa hoạt động và phát triển sản phẩm/dịch vụ mới.

• Chính phủ số và Dịch vụ công: Các chính phủ sẽ tiếp tục đầu tư vào hạ tầng số và dịch vụ trực tuyến để nâng cao hiệu quả và đáp ứng nhu cầu của công dân.

• Bảo mật và Quyền riêng tư: Với sự gia tăng của dữ liệu số, việc bảo vệ thông tin cá nhân và đảm bảo an ninh mạng sẽ trở thành ưu tiên hàng đầu.

ESG – Xu thế toàn cầu về phát triển bền vững, ESG là bộ tiêu chí đánh giá doanh nghiệp theo ba khía cạnh:

  1. Environmental (Môi trường): Đánh giá cách doanh nghiệp tác động đến môi trường, bao gồm việc quản lý chất thải, sử dụng năng lượng, phát thải khí nhà kính và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
  2. Social (Xã hội): Xem xét mối quan hệ của doanh nghiệp với các bên liên quan như nhân viên, khách hàng, cộng đồng và đối tác. Các khía cạnh như quyền lao động, đa dạng và hòa nhập, an toàn lao động và đóng góp cho cộng đồng được đánh giá trong tiêu chí này.
  3. Governance (Quản trị doanh nghiệp): Tập trung vào cấu trúc và thực tiễn quản trị của doanh nghiệp, bao gồm tính minh bạch, đạo đức kinh doanh, cơ cấu hội đồng quản trị và tuân thủ quy định pháp luật.

Áp dụng ESG trên thế giới:

• Từ 2021 đến nay, các quỹ đầu tư toàn cầu đã tăng mạnh vốn rót vào các công ty có điểm ESG cao. Riêng năm 2023, các quỹ ESG đã quản lý trên 2.500 tỷ USD (theo Bloomberg).

• Liên minh châu Âu (EU) đã áp dụng Chỉ thị Báo cáo Bền vững Doanh nghiệp (CSRD), yêu cầu

50.000 công ty phải báo cáo ESG bắt buộc từ năm 2024.

• Ủy ban Chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) năm 2023 đã yêu cầu các công ty niêm yết báo cáo về rủi ro khí hậu và ESG, coi đó là thông tin ảnh hưởng đến quyết định đầu tư.

• Tổ chức Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế (IFRS) cũng đưa ra Bộ chuẩn IFRS S1, S2 về công bố ESG áp dụng toàn cầu từ năm 2024.

Xu thế toàn cầu về áp dụng ISO trong phát triển bền vững và bảo vệ môi trường

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, các tiêu chuẩn ISO đã trở thành công cụ then chốt giúp doanh nghiệp và chính phủ nâng cao năng lực quản lý môi trường, sử dụng tài nguyên hiệu quả và bảo đảm phát triển bền vững. Dưới đây là một số xu hướng nổi bật:

• ISO 14001 (Hệ thống quản lý môi trường) là một trong những tiêu chuẩn ISO phổ biến nhất toàn cầu. Theo Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO), tính đến năm 2022 đã có:

• Gần 350.000 giấy chứng nhận ISO 14001 được cấp tại hơn 180 quốc gia, tăng gấp 3 lần trong vòng 15 năm.

• Trung Quốc, Nhật Bản, Ý, Đức và Anh là những quốc gia dẫn đầu về số lượng tổ chức áp dụng tiêu chuẩn này.

• ISO 50001 (Quản lý năng lượng) được xem là công cụ chiến lược giúp doanh nghiệp giảm tiêu thụ năng lượng và khí thải CO₂. Đến năm 2022:

• Đã có gần 25.000 tổ chức trên toàn cầu áp dụng ISO 50001.

• Đức, Ấn Độ, Mỹ, Trung Quốc và Pháp là những nước đi đầu.

• ISO 26000 (Hướng dẫn trách nhiệm xã hội) đang được nhiều doanh nghiệp lớn tại EU, Nhật Bản và Bắc Mỹ sử dụng làm nền tảng cho chiến lược phát triển bền vững, trong đó có tích hợp các yếu tố của ESG.

• ISO 14064 (Đo lường và xác minh khí nhà kính) và ISO 14067 (Đánh giá vòng đời carbon sản phẩm) là các tiêu chuẩn ngày càng được áp dụng rộng rãi trong các ngành xuất khẩu để đáp ứng yêu cầu của các thị trường như EU (CBAM – Cơ chế điều chỉnh carbon), Nhật Bản, Hàn Quốc.

• Theo ISO Survey 2022, châu Á là khu vực tăng trưởng nhanh nhất về số lượng tổ chức được cấp chứng nhận ISO môi trường và năng lượng, phản ánh áp lực và nhu cầu mạnh mẽ về chuyển đổi xanh tại các nền kinh tế đang phát triển.

Về xu hướng tăng trưởng xanh toàn cầu

Tăng trưởng xanh đang trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển kinh tế toàn cầu, với trọng tâm là giảm phát thải carbon, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thúc đẩy năng lượng tái tạo. Năm 2024, đầu tư vào chuyển đổi năng lượng thấp carbon trên toàn cầu đạt mức kỷ lục 2,1 nghìn tỷ USD, tăng 11% so với năm trước đó . Đặc biệt, năng lượng tái tạo chiếm hơn 90% tổng công suất điện mới được bổ sung, với 585 GW, đánh dấu mức tăng trưởng hàng năm kỷ lục 15,1% .

Bài học từ Trung Quốc trong 10 năm qua

Trung Quốc là ví dụ tiêu biểu cho chuyển đổi mô hình phát triển từ tăng trưởng tốc độ cao sang phát triển chất lượng cao. Năm 2020, tại Đại hội đồng Liên hợp quốc, lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình tuyên bố Trung Quốc sẽ đạt đỉnh phát thải carbon trước năm 2030 và đạt trung hòa carbon trước năm 2060. Cam kết này thể hiện sự quyết tâm của Trung Quốc trong việc đóng góp vào nỗ lực toàn cầu chống biến đổi khí hậu. Ông Tập Cận Bình nhấn mạnh: phát triển kinh tế từ 'có hay không' sang 'tốt hay không'.

Trung Quốc đã thành công trong việc kiểm soát ô nhiễm, đặc biệt tại Bắc Kinh - từ thành phố ô nhiễm nhất trở thành một trong những đô thị sạch nhất thế giới chỉ trong 10 năm. Trung Quốc đã đầu tư mạnh mẽ vào năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện mặt trời và điện gió và phát triển điện hạt nhân.

Năm 2024, nước này lắp đặt kỷ lục 357 gigawatt công suất điện gió và mặt trời, vượt xa mục tiêu đề ra cho năm 2030 trước 6 năm. Điều này củng cố vị thế dẫn đầu của Trung Quốc trong lĩnh vực năng lượng sạch [2]. Trung Quốc đã thiết lập thị trường giao dịch carbon quốc gia nhằm khuyến khích các doanh nghiệp giảm phát thải. Ngoài ra, nước này cũng phát hành trái phiếu xanh toàn cầu đầu tiên vào tháng 4 năm 2025, huy động vốn cho các dự án phát triển bền vững [3].

Thành tựu nổi bật về chuyển đổi số của Trung Quốc

  1. Phát triển hạ tầng số: Tính đến năm 2024, Trung Quốc đã xây dựng hơn 4,14 triệu trạm gốc

5G, đạt tỷ lệ trung bình 29 trạm trên 10.000 người dân, tạo nền tảng vững chắc cho các ứng dụng số tiên tiến.

  1. Số lượng người dùng internet tăng cao: Đến tháng 12 năm 2024, số lượng người dùng internet tại Trung Quốc đạt 1,1 tỷ người, tăng 16 triệu so với năm trước, cho thấy sự phổ cập rộng rãi của công nghệ số trong đời sống hàng ngày.
  2. Đầu tư vào trung tâm dữ liệu: Trung Quốc đã đầu tư khoảng 6,1 tỷ USD vào dự án “Dữ liệu phía Đông, Tính toán phía Tây”, nhằm xây dựng các trung tâm dữ liệu lớn, hỗ trợ chiến lược “Trung Quốc số” của Chủ tịch Tập Cận Bình.

Tỷ trọng kinh tế số trong nền kinh tế Trung Quốc

• Toàn quốc: Năm 2023, kinh tế số đóng góp khoảng 42,8% vào GDP của Trung Quốc, tăng trưởng 7,4% so với năm trước, cho thấy vai trò quan trọng của kinh tế số trong tăng trưởng kinh tế quốc gia.

• Tỉnh Quảng Đông: Năm 2022, giá trị gia tăng của kinh tế số tại Quảng Đông đạt 6,4 nghìn tỷ nhân dân tệ, chiếm 12,8% tổng giá trị quốc gia và đóng góp 49,7% vào GDP của tỉnh, khẳng định vị thế dẫn đầu trong phát triển kinh tế số.

• Thành phố Quảng Châu: Năm 2023, các ngành cốt lõi của kinh tế số đóng góp 13% vào GDP của thành phố, với việc xây dựng thêm 15.200 trạm gốc 5G, nâng tổng số lên 91.700 trạm, thúc đẩy hạ tầng viễn thông và kết nối số.

Những thông tin trên cho thấy Trung Quốc, đặc biệt là tỉnh Quảng Đông và thành phố Quảng Châu, đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong chuyển đổi số, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.

Một ví dụ khác tại ASEAN là tổng quan về các nỗ lực và thành tựu của Malaysia trong chuyển đổi xanh, phát triển bền vững, ứng dụng ESG, chuẩn mực ISO, và chuyển đổi số, chuyển đổi Xanh và Phát triển Bền vững:

• Cam kết về Biến đổi Khí hậu: Malaysia đặt mục tiêu đạt trung hòa carbon vào năm 2050, thông qua việc giảm 45% lượng phát thải carbon trên GDP.

• Chính sách Năng lượng Tái tạo: Chính phủ đã triển khai Lộ trình Năng lượng Tái tạo Malaysia

(MyRER), tập trung vào việc tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo và cải thiện quản lý chất thải.

• Phát triển Công nghiệp Xanh: Malaysia đang thúc đẩy công nghiệp xanh thông qua việc áp dụng công nghệ tiên tiến và cải thiện hiệu quả năng lượng, nhằm giảm thiểu tác động môi trường.

• Chính sách Kinh tế Tuần hoàn: Malaysia đã giới thiệu Khung Chính sách Kinh tế Tuần hoàn nhằm chuyển đổi ngành công nghiệp và hỗ trợ phát triển bền vững .

• Kế hoạch Công nghiệp Mới 2030 (NIMP 2030): Malaysia đang giảm phát thải carbon trong các ngành công nghiệp thông qua việc áp dụng hiệu quả năng lượng, năng lượng tái tạo và quản lý chất thải tiên tiến .

• Đầu tư vào Năng lượng Tái tạo: Malaysia đang tăng cường đầu tư vào năng lượng tái tạo

Ứng dụng ESG (Môi trường, Xã hội và Quản trị)

• Hướng dẫn Công bố ESG: Năm 2024, Malaysia đã giới thiệu Hướng dẫn Công bố ESG Đơn giản hóa (SEDG), cung cấp hướng dẫn chi tiết cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) trong chuỗi cung ứng của năm lĩnh vực kinh tế quan trọng.

• Tích hợp ESG trong Chuỗi Cung ứng: Các doanh nghiệp Malaysia đang ngày càng chú trọng đến tính minh bạch và tuân thủ ESG trong chuỗi cung ứng, nhằm đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư quốc tế và cải thiện vị thế trên thị trường toàn cầu.

Áp dụng chuẩn mực ISO

• Tăng trưởng Chứng nhận ISO: Số lượng chứng nhận ISO 9001 tại Malaysia đã tăng gấp đôi kể từ năm 2010, cho thấy sự cam kết của doanh nghiệp đối với chất lượng và quản lý hiệu quả.

• Chứng nhận ISO 45001:2018: Năm 2024, một số doanh nghiệp Malaysia đã đạt được chứng nhận ISO 45001:2018, nhấn mạnh cam kết về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp.

Chuyển đổi số

• Đầu tư vào Kinh tế Số: Trong nửa đầu năm 2024, Malaysia đã thu hút đầu tư kỹ thuật số trị giá 163,6 tỷ RM, tăng 250% so với năm trước, tạo ra hơn 48.000 việc làm.

• Giải thưởng Chuyển đổi Số: Giải thưởng Chuyển đổi Số Malaysia được tổ chức để ghi nhận những đóng góp xuất sắc của các cá nhân và cơ quan trong khu vực công đối với đổi mới và chuyển đổi số.

• Tầm nhìn về Trí tuệ Nhân tạo (AI): Thủ tướng Anwar Ibrahim nhấn mạnh cam kết của Malaysia trong việc áp dụng AI và công nghệ số như những động lực chính cho tăng trưởng kinh tế.

Những sáng kiến này phản ánh cam kết mạnh mẽ của Malaysia trong việc thúc đẩy phát triển bền vững, tích hợp các nguyên tắc ESG, tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế và đẩy mạnh chuyển đổi số để đạt được tăng trưởng kinh tế và xã hội toàn diện.

Việt Nam - lựa chọn con đường nào trong kỷ nguyên mới?

Với Việt Nam, Đảng ta xác định, từ Đại hội XIV trở đi, đất nước ta sẽ chính thức bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, với phương châm "kỷ cương trách nhiệm, chủ động kịp thời, tăng tốc sáng tạo, hiệu quả bền vững" [4]. Việt Nam đã và đang có nhiều chính sách nhất quán và quyết tâm trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu, đồng thời tạo nền tảng cho các hoạt động và chương trình hành động cụ thể nhằm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững như: Chiến lược Quốc gia về Biến đổi Khí hậu đến năm 2050; Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về "Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường"; Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020; Cam kết tại Hội nghị COP26 (2021).

Tổng Bí thư Tô Lâm đã đưa ra tư duy, tầm nhìn chiến lược phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình: tăng trưởng kinh tế hai con số phải gắn với phát triển bền vững. Người đứng đầu Đảng ta đã có 5 chỉ đạo mang tầm nhìn thế kỷ đó là: (1) tái khởi động xây dưng nhà máy điện hạt nhân, đây là điều vô cùng quan trọng khi nền kinh tế và cả xã hội đang trong “Cơn khát” năng lượng để phát triển mà các loại năng lượng khác công suất không thể lớn như điện hạt nhân được; (2) đầu tư xây dựng đường bộ và đường sắt cao tốc Bắc - Nam; (3) ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; (4) thực hiện cách mạng tinh gọn bộ máy trong hệ thống chính trị; (5) tổ chức lại không gian lãnh thổ cấp tỉnh và thực hiện chính quyền 2 cấp để tạo động lực mới cho phát triển [5].

Tại lễ kỷ niệm 80 năm ngành Nông nghiệp và Môi trường, Tổng Bí thư đã chỉ đạo: “phát triển nông nghiệp, bảo vệ tài nguyên và môi trường không chỉ là nhiệm vụ kinh tế, mà còn là nhiệm vụ chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng”. “Việt Nam đã có những cam kết và hành động mạnh mẽ, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, thể hiện trách nhiệm của chúng ta trước cộng đồng quốc tế và đối với các thế hệ tương lai; Phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, năng lượng tái tạo đang trở thành xu hướng chủ đạo trong chiến lược phát triển quốc gia”. “Phải đẩy mạnh phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, coi đây là động lực then chốt của phát triển.

Triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57 về phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia trên lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Xây dựng hệ thống dữ liệu đồng bộ về đất đai, tài nguyên nước, rừng, khí tượng thủy văn và đa dạng sinh học; phát triển bản đồ số ngành, cơ sở dữ liệu đất đai thống nhất trên phạm vi toàn quốc”. “Phải xử lý dứt điểm các điểm nóng ô nhiễm môi trường tại các đô thị lớn, khu công nghiệp, làng nghề, các dòng sông; ngăn chặn các nguồn gây ô nhiễm mới, cải thiện chất lượng môi trường sống của người dân”.

Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV xác định: “Xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu là nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực”. “Thiết lập và vận hành hiệu quả thị trường tín chỉ cácbon trong nước kết nối với thị trường khu vực và thế giới.

Xây dựng và tích hợp cơ sở dữ liệu quản lý, khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu vào cơ sở dữ liệu quốc gia. Phát triển mạnh ngành công nghiệp và dịch vụ môi trường, thúc đẩy xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường”. “Chú trọng hợp tác quốc tế trong việc quản lý và sử dụng nguồn nước bảo đảm lợi ích quốc gia. Huy động tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, cơ chế ưu đãi quốc tế phục vụ chuyển đổi xanh, giảm phát thải khí nhà kính, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050”.

Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức lớn do biến đổi khí hậu, điển hình như Hà Nội đã có nhiều ngày đứng đầu danh sách các thành phố ô nhiễm nhất thế giới, trong khi vẫn phải bảo đảm tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Từ Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất năm 1992 đến nay (2025), các cam kết toàn cầu về phát triển bền vững đã định hình rõ ràng hơn, đặc biệt với 17 Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) của Liên hợp quốc.

Trong bối cảnh đó, Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp và hành động nhanh trong đột phá khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; quyết liệt cải thiện chất lượng không khí, hệ thống dòng chảy mặt, và hạ tầng đô thị xanh để có thể trở thành quốc gia đi đầu trong khu vực về phát triển bền vững.

Trong đó, Hà Nội cần trở thành hình mẫu của chuyển đổi xanh, giao thông sạch, đô thị sinh thái, đẩy mạnh khai thác giao thông đường thuỷ (quy hoạch và xây dựng hệ thống bến thuỷ nội địa trên sông Hồng và hệ thống sông khác để phát triển giao thông thuỷ nội địa) để giảm tải cho giao thông đường bộ. Theo quy hoạch đến năm 2030, Hà Nội dự kiến xây dựng 5 cụm cảng hàng hóa và 1 cụm cảng hành khách nằm ven các sông [7], nhằm tăng cường vận chuyển hàng hóa và kết nối vùng.

Về chuyển đổi số, tại Việt Nam, Chính phủ đã xác định rõ trong Chương trình Chuyển đổi số quốc gia rằng: chuyển đổi số phải song hành với phát triển bền vững, phục vụ con người và thiên nhiên. Việc số hóa quy hoạch, quản lý tài nguyên, giám sát khí thải và chất lượng không khí, sử dụng cảm biến môi trường trong thành phố thông minh, số hóa chuỗi cung ứng nông nghiệp - công nghiệp - thương mại… là những ứng dụng điển hình cho thấy công nghệ đang trở thành “cánh tay nối dài” của tăng trưởng xanh.

Chuyển đổi số cũng là công cụ quan trọng để hiện thực hóa các nguyên tắc về môi trường, xã hội và quản trị (ESG). Dữ liệu ESG sẽ chỉ có giá trị khi được quản lý minh bạch, số hóa và dễ dàng chia sẻ; việc giám sát hiệu quả môi trường - xã hội - quản trị cần tới hệ thống hạ tầng số mạnh mẽ, tích hợp các chuẩn mực quốc tế.

Tuy nhiên, để chuyển đổi số phát huy hiệu quả và không gây ra bất công xã hội hay rủi ro công nghệ, Việt Nam cần đồng thời chú trọng đến các yếu tố nền tảng như: phát triển hạ tầng số, bảo đảm an ninh mạng, nâng cao năng lực số của người dân, đặc biệt là ở khu vực nông thôn - miền núi - vùng sâu xa; thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp công nghệ số trong nước để chủ động hơn trước các xu hướng toàn cầu.

Tóm lại, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh không chỉ là xu thế thời đại mà còn là điều kiện tất yếu để xây dựng một nền kinh tế hiện đại, tăng trưởng một cách chất lượng và bền vững, có khả năng thích ứng cao với biến động khí hậu, bảo đảm nhu cầu phát triển của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến thế hệ tương lai.

Khuyến nghị chiến lược cho Việt Nam

Cụ thể hóa thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 10-4-2024, của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045:

1. Xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo xanh, phát triển khoa học công nghệ phục vụ mục tiêu phát triển bền vững

• Nghị quyết số 57 đã xác định rõ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt cho phát triển đất nước. Vì vậy:

• Hoàn thiện hệ thống khung pháp lý và chính sách quốc gia về chuyển đổi số và tăng trưởng xanh

• Hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia trong lĩnh vực công nghệ xanh, nông nghiệp thông minh, kinh tế tuần hoàn tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng kinh tế trọng điểm. Đây sẽ là hạt nhân lan tỏa các mô hình phát triển xanh trên cả nước.

• Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tiên tiến (AI, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, vật liệu mới…) vào lĩnh vực môi trường, năng lượng tái tạo, giao thông sạch, nông nghiệp carbon thấp.

• Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực môi trường thông qua Quỹ đổi mới sáng tạo khí hậu, ưu đãi thuế, tín dụng xanh và các chương trình tăng tốc khởi nghiệp.

2. Đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện gắn với mục tiêu phát thải ròng bằng 0

• Xây dựng nền tảng dữ liệu môi trường và khí hậu quốc gia, tích hợp với hệ thống dữ liệu mở về tài nguyên, năng lượng, khí thải, nhằm phục vụ quản trị môi trường và ra quyết định dựa trên dữ liệu.

• Áp dụng công nghệ số vào quy hoạch và quản lý đô thị: triển khai các giải pháp thành phố thông minh xanh, tích hợp cảm biến giám sát môi trường, quản lý năng lượng thông minh, kiểm soát giao thông và chất lượng không khí bằng AI.

• Chuyển đổi số trong doanh nghiệp hướng tới xanh hóa chuỗi giá trị: khuyến khích số hóa sản xuất, thương mại điện tử bền vững, ứng dụng IoT trong nông nghiệp và công nghiệp tiết kiệm tài nguyên.

3. Quy hoạch lại không gian phát triển trên cơ sở sinh thái và công nghệ

• Tái cấu trúc lãnh thổ kinh tế - xã hội theo chỉ số sinh thái: áp dụng công cụ đánh giá sức chịu tải môi trường làm nền tảng cho quy hoạch vùng, quy hoạch đô thị, nhằm phân bổ hợp lý dân cư, công nghiệp, dịch vụ, hạ tầng giao thông và không gian xanh.

• Phát triển Hà Nội thành đô thị dẫn đầu về chuyển đổi số và tăng trưởng xanh: thí điểm mô hình "Hà Nội - Thành phố sinh thái số", kết hợp năng lượng tái tạo, giao thông sạch, dữ liệu lớn và kinh tế tuần hoàn để trở thành hình mẫu quốc gia về đô thị thông minh, bền vững.

4. Thiết lập nền tảng tài chính - thể chế để hiện thực hóa mục tiêu khoa học – công nghệ - đổi mới sáng tạo vì mục tiêu phát triển bền vững

• Xây dựng và vận hành Quỹ đổi mới sáng tạo vì mục tiêu phát triển bền vững nhằm hỗ trợ các chương trình nghiên cứu, khởi nghiệp và triển khai công nghệ liên quan đến năng lượng sạch, giao thông phi carbon, nông nghiệp sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học.

• Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư xanh: phát hành trái phiếu xanh quốc gia, thu hút các nguồn tài chính khí hậu từ quốc tế, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển công nghệ sạch theo cơ chế thị trường carbon.

• Cải cách chính sách, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các mô hình hợp tác công - tư trong phát triển hạ tầng xanh, các dự án chuyển đổi số – năng lượng sạch - công nghiệp không phát thải.

5. Thúc đẩy giáo dục sáng tạo và nâng cao nhận thức xã hội về phát triển xanh, công nghệ và số hóa

• Tích hợp giáo dục vì khí hậu, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào chương trình phổ thông và đại học, hình thành thế hệ công dân sinh thái số.

• Tổ chức các chiến dịch truyền thông số hóa về biến đổi khí hậu, sử dụng mạng xã hội và nền tảng số để nâng cao nhận thức cộng đồng, lan tỏa thói quen sống xanh và sử dụng công nghệ vì môi trường.

6. Triển khai hệ thống đánh giá ESG và tiêu chuẩn quốc tế (ISO) để bảo đảm phát triển xanh thực chất, chống “giả xanh”

• Áp dụng lộ trình báo cáo ESG theo chuẩn quốc tế: Việt Nam cần sớm xây dựng bộ chỉ số ESG quốc gia, tham khảo các bộ chuẩn như GRI (Global Reporting Initiative), IFRS S1/S2 (do Hội đồng Tiêu chuẩn Quốc tế công bố), CSRD của EU… Bắt đầu thí điểm từ các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp lớn và các dự án có nguy cơ phát thải cao.

• Xây dựng và triển khai khung hướng dẫn ESG cho các cấp chính quyền địa phương và doanh nghiệp, đồng thời đưa tiêu chí ESG vào đánh giá hiệu quả quản lý và điều hành.

• Áp dụng thí điểm và từng bước bắt buộc hóa báo cáo ESG đối với các doanh nghiệp nhà nước lớn, doanh nghiệp niêm yết và các dự án có tác động môi trường lớn. Xây dựng lộ trình phù hợp để áp dụng rộng rãi đến năm 2030.

• Thiết lập khung hướng dẫn ESG quốc gia, lấy tham chiếu từ tiêu chuẩn quốc tế (CSRD, IFRS S1/S2, GRI) nhưng điều chỉnh phù hợp với điều kiện Việt Nam. Hình thành hệ thống chỉ số ESG quốc gia liên kết với SDGs và Net Zero.

• Thành lập cơ quan giám sát và đánh giá độc lập để kiểm soát tình trạng “greenwashing”, đảm bảo các báo cáo môi trường - xã hội là thực chất, không chỉ mang tính hình thức.

• Đưa ESG vào tiêu chí đánh giá hiệu quả điều hành của chính quyền địa phương, tạo động lực hành động xanh và minh bạch trong bộ máy nhà nước.

• Khuyến khích đầu tư theo ESG: Ban hành các ưu đãi tài chính (tín dụng xanh, ưu đãi thuế) đối với các doanh nghiệp, dự án có điểm ESG cao; phát triển hệ sinh thái đánh giá xếp hạng tín nhiệm ESG.

  1. Kết hợp ESG với các hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn ISO, đặc biệt là:

• ISO 14001 (hệ thống quản lý môi trường); ISO 50001 (quản lý năng lượng); ISO 26000 (trách nhiệm xã hội); ISO 14064 (báo cáo và xác minh khí nhà kính).

Khuyến khích các tổ chức/doanh nghiệp xây dựng hệ thống quản lý tích hợp ESG + ISO để nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu.

• Thành lập cơ quan đánh giá và kiểm toán độc lập về ESG nhằm ngăn chặn hiện tượng “greenwashing” (giả xanh), bảo đảm báo cáo bền vững là thực chất và minh bạch, đặc biệt trong các lĩnh vực rủi ro cao như xây dựng, năng lượng, hóa chất, khai thác tài nguyên…

• Thúc đẩy “tài chính xanh gắn ESG”: Hình thành hệ sinh thái đầu tư dựa trên đánh giá ESG; khuyến khích các ngân hàng, quỹ đầu tư, doanh nghiệp phát hành trái phiếu xanh, trái phiếu ESG. Ưu tiên tín dụng cho các doanh nghiệp có xếp hạng ESG tốt và đạt chứng chỉ ISO liên quan đến môi trường và quản trị bền vững.

• Tuyên truyền, đào tạo và nâng cao năng lực ESG và ISO: Tổ chức đào tạo chuyên sâu về đánh giá ESG, tư vấn ISO cho cán bộ quản lý nhà nước, doanh nghiệp, đặc biệt tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng. Đây sẽ là nền móng để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế xanh – kinh tế tri thức.

Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng muốn phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu cần một chiến lược tổng thể, đa ngành, dài hạn, trong đó phát triển kinh tế phải song hành với bảo vệ môi trường và công bằng xã hội. Mỗi hành động hôm nay sẽ quyết định chất lượng cuộc sống cho các thế hệ mai sau.

Việc điều chỉnh các mục tiêu về năng lượng, như giảm sự phụ thuộc vào than đá và khí tự nhiên, đồng thời tăng cường phát triển năng lượng tái tạo, đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo an ninh năng lượng và phát triển bền vững. Những nỗ lực của Việt Nam trong việc giảm phát thải khí nhà kính và thích ứng với biến đổi khí hậu không chỉ đóng góp vào mục tiêu toàn cầu mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững trong nước. Chuyển đổi số ở Việt Nam cần gắn liền với phát triển bền vững là một quan điểm mang tính chiến lược, phản ánh sự nhận thức sâu sắc rằng công nghệ không chỉ là công cụ phát triển kinh tế mà còn là đòn bẩy cho phát triển toàn diện và bền vững.

Hà Nội cần trở thành đầu tầu tăng trưởng xanh, chuyển đổi số

Như phân tích ở trên, Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức lớn do biến đổi khí hậu, điển hình như Hà Nội đã có nhiều ngày đứng đầu danh sách các thành phố ô nhiễm nhất thế giới, trong khi vẫn phải bảo đảm tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Trong bối cảnh đó, Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp và hành động nhanh trong đột phá khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

Trong tiến trình thực hiện Chiến lược Quốc gia về Tăng trưởng xanh, Hà Nội đóng vai trò tiên phong. Là thủ đô với dân số khoảng 8,7 triệu người và quy mô GRDP lớn, Hà Nội không chỉ là trung tâm kinh tế mà còn là đầu tàu trong việc thực hiện các định hướng phát triển xanh của cả nước. Vị thế dẫn đầu của Hà Nội trong hệ thống khoa học - công nghệ quốc gia được thể hiện qua: Thành phố là nơi tập trung hơn 70% các đơn vị nghiên cứu, 82% các phòng thí nghiệm quốc gia, và liên tục dẫn đầu về Chỉ số Đổi mới sáng tạo địa phương (PII) năm 2023, 2024, 2025 (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Các chính sách, Nghị quyết của thành phố vừa ban hành cũng thể hiện sự quyết tâm trong việc sử dụng KH&CN để thúc đẩy phát triển.

1. Tiềm lực khoa học - công nghệ Hà Nội: Nền tảng cho đổi mới sáng tạo xanh

Thủ đô Hà Nội từ lâu đã khẳng định vững chắc vị thế là trung tâm khoa học - công nghệ hàng đầu của Việt Nam. Vị thế này được minh chứng rõ ràng qua sự tập trung dày đặc của các tổ chức nghiên cứu và đào tạo, cùng những thành tựu nổi bật về nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, tạo nên nền tảng cốt lõi cho việc thúc đẩy Đổi mới Sáng tạo Xanh (Green Innovation).

a. Hệ thống Viện, Trường và Phòng thí nghiệm trọng điểm

Hà Nội là nơi tập trung phần lớn tiềm lực khoa học - công nghệ của cả nước. Theo thống kê, thành phố là nơi đặt trụ sở của hơn 70% các tổ chức nghiên cứu và phát triển (R&D) của Việt Nam. Đặc biệt, đây cũng là nơi tọa lạc của khoảng 82% các phòng thí nghiệm trọng điểm cấp quốc gia, đóng vai trò then chốt trong các lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu từ công nghệ sinh học, vật liệu mới đến tự động hóa và năng lượng.

Bên cạnh các tổ chức nghiên cứu chuyên biệt, Hà Nội còn là "thủ phủ" của hệ thống giáo dục đại học, với sự hiện diện của hơn 90 trường đại học, học viện và 70 viện nghiên cứu. Sự tập trung của các trường đại học hàng đầu như Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội, và Học viện Nông nghiệp Việt Nam không chỉ đảm nhiệm vai trò đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn là những trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ lớn, tạo ra nền tảng vững chắc cho sự phát triển KH&CN của Thủ đô, đặc biệt trong các lĩnh vực liên quan đến chuyển đổi năng lượng, giao thông xanh và quản lý đô thị thông minh.

b. Năng lực khoa học và đổi mới sáng tạo

Những tiềm lực về cơ sở vật chất và nguồn nhân lực tại Hà Nội đã được chuyển hóa thành các thành tựu cụ thể về nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo. Trong những năm gần đây, Hà Nội luôn giữ vững vị thế dẫn đầu cả nước về số lượng các công bố khoa học trên các tạp chí quốc tế uy tín thuộc danh mục WoS và Scopus. Điều này không chỉ khẳng định năng lực nghiên cứu của các nhà khoa học, mà còn nâng cao uy tín khoa học của Việt Nam trên bản đồ thế giới. Thành phố cũng đang tiếp tục đẩy mạnh đầu tư cho hạ tầng nghiên cứu, phát triển mạng lưới hợp tác quốc tế và cơ chế khuyến khích công bố khoa học, qua đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh tri thức và khẳng định vai trò đầu tàu trong hệ sinh thái khoa học – công nghệ quốc gia.

Bên cạnh đó, số liệu về đăng ký sở hữu trí tuệ cũng cho thấy sự bứt phá của Hà Nội trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo. Thành phố là địa phương có số lượng đơn đăng ký bằng sáng chế, giải pháp hữu ích và kiểu dáng công nghiệp cao nhất cả nước, với gần 20.000 đơn và gần 10.000 văn bằng sở hữu công nghiệp được cấp trong năm 2024 (Nguồn: Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ). Sự gia tăng mạnh mẽ này cho thấy hoạt động nghiên cứu đã gắn kết chặt chẽ hơn với việc tạo ra các sản phẩm thương mại và có giá trị ứng dụng thực tiễn. Đây là tiền đề đặc biệt quan trọng cho việc phát triển và triển khai các công nghệ xanh và bền vững, phục vụ trực tiếp cho mục tiêu chuyển đổi năng lượng và quản lý đô thị hướng tới Net-Zero.

719-202512231515493.png

719-202512231515494.png

719-202512231515495.png
SC: sáng chế; GPHI: Giải pháp hữu ích, KDCN: Kiểu dáng công nghiệp; NH: Nhãn hiệu

Nguồn: Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ

Vị thế dẫn đầu về đổi mới sáng tạo của Hà Nội

Hà Nội không chỉ mạnh về tiềm lực nghiên cứu mà còn nổi bật với khả năng chuyển đổi những kết quả đó thành giá trị thực tiễn thông qua hoạt động đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp.

a. Kết quả PII 2025: Hà Nội đứng đầu cả nước

Một trong những minh chứng rõ nét nhất cho năng lực KH&CN và ĐMST của Hà Nội là kết quả Chỉ số Đổi mới sáng tạo cấp tỉnh (PII). Năm 2025, Hà Nội đã khẳng định vị thế dẫn đầu khi đạt hạng nhất toàn quốc với số điểm 65,68 (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025).

Thành tích này không phải là ngẫu nhiên, mà là sự tổng hòa của nhiều yếu tố then chốt, bao gồm:

(i) Chi tiêu cho khoa học - công nghệ (Đầu vào): Hà Nội là địa phương có chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển (R&D) cao nhất cả nước, tạo nguồn lực tài chính dồi dào và ổn định cho các hoạt động sáng tạo.

(ii) Hạ tầng khoa học - công nghệ: Thành phố sở hữu mạng lưới các viện, trường, phòng thí nghiệm và cơ sở dữ liệu khoa học - công nghệ hiện đại được đầu tư mạnh mẽ, tạo môi trường thuận lợi cho nghiên cứu.

(iii) Nguồn nhân lực chất lượng cao: Hà Nội có tỷ lệ nhân lực làm việc trong lĩnh vực khoa học - công nghệ cao nhất, đặc biệt là các chuyên gia có trình độ, bảo đảm chất lượng cho các hoạt động nghiên cứu.

Kết quả PII 2025 đã tổng hợp đầy đủ các yếu tố đầu vào, đầu ra và môi trường thể chế thuận lợi này (Biểu 1), chứng minh rằng Hà Nội có nền tảng vững chắc để thúc đẩy Đổi mới Sáng tạo xanh (Green Innovation), tạo đà mạnh mẽ cho các mục tiêu phát triển bền vững và Net-Zero Carbon.

Biểu 1: Điểm số PII năm 2025, đầu vào, đầu ra và 7 trụ cột của 10 địa phương dẫn đầu

Địa phương
Điểm số PII
Đầu vào
Đầu ra
1. Thể chế
2. Vốn con người và NC&PT
3. Cơ sở hạ tầng
4. Trình độ của thị trường
5. Trình độ của doanh nghiệp
6. SP tri thức, sáng tạo và CN
7. Tác động
Hà Nội
62.86
67.01
64.34
58.6
85.27
60.85
82.99
47.34
63.8
68.89
Tp. Hồ Chí Minh
59.33
65.21
53.44
61.81
57.82
87.36
77.11
41.97
48.94
57.95
Quảng Ninh
58.41
63.28
53.53
69.93
51.00
80.47
71.56
43.44
33.51
73.56
Hải Phòng
58.09
60.99
55.18
79.55
45.46
62.07
68.6
49.27
40.04
70.32
TP. Huế
49.37
51,50
47.23
70.08
64.15
53.3
36.43
33.55
49.89
44.57
Bắc Ninh
48.76
53.06
44.47
59.17
39.99
62.3
47.43
56.40
28.74
60.2
Hưng Yên
47.48
46.81
48.15
62.1
31.5
51.63
40.73
48.08
41.55
54.75
TP. Đà Nẵng
47.20
56.15
38.25
59.92
55.86
63.59
56.78
44.59
35.48
41.02
Khánh Hòa
46.54
46.8
46.28
58.76
38.15
62.75
51.58
22.77
32.96
59.59
TP. Cần Thơ
46.21
45.07
47.35
65.87
39.39
60.02
38.89
21.21
37.25
57.44

Nguồn: Cơ sở dữ liệu PII năm 2025, Bộ Khoa học và Công nghệ

b. Hệ sinh thái startup, sàn giao dịch công nghệ, vườn ươm đổi mới sáng tạo

Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Hà Nội không chỉ dừng lại ở các chỉ số thống kê mà đã phát triển thành đồng bộ thành một hệ sinh thái sôi động, nơi các ý tưởng được ươm mầm và thương mại hóa. Đây là nền tảng quan trọng để Hà Nội trở thành đô thị sáng tạo, trung tâm khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo hàng đầu, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế tri thức và tăng trưởng xanh của Việt Nam.

Hệ sinh thái startup: Hà Nội là một trong hai trung tâm khởi nghiệp lớn nhất cả nước, với hàng nghìn startup hoạt động trong nhiều lĩnh vực, từ công nghệ thông tin, tài chính (fintech) đến công nghệ xanh (greentech). Thành phố không chỉ sở hữu lực lượng lao động trẻ, sáng tạo mà còn có sự hỗ trợ từ các chính sách khuyến khích đổi mới sáng tạo của Nhà nước. Các tổ chức, quỹ đầu tư mạo hiểm trong và ngoài nước đang ngày càng quan tâm đến các starup tại Hà Nội, cùng với đó là các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp non trẻ phát triển.

Sàn giao dịch công nghệ: Đây là một phần quan trọng trong hệ sinh thái khởi nghiệp, giúp kết nối các nhà sáng chế, nhà nghiên cứu và các doanh nghiệp. Các sàn giao dịch công nghệ như Techmart đã trở thành cầu nối hiệu quả, giúp các doanh nghiệp tiếp cận và chuyển giao các công nghệ tiên tiến, đặc biệt là các công nghệ phục vụ cho sản xuất sạch và tiết kiệm năng lượng, qua đó thúc đẩy quá trình thương mại hóa các sản phẩm sáng tạo. Vườn ươm đổi mới sáng tạo: Nhiều vườn ươm công nghệ được thành lập tại các trường đại học và khu công nghệ cao đã và đang hỗ trợ các dự án tiềm năng về không gian làm việc, tư vấn pháp lý và kết nối với các nhà đầu tư.

Tại Hà Nội, vườn ươm đổi mới sáng tạo đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ starup từ những giai đoạn đầu. Những vườn ươm này không chỉ giúp chuyển hóa các kết quả nghiên cứu học thuật thành những giải pháp ứng dụng thực tiễn, mà còn góp phần quan trọng vào quá trình chuyển đổi xanh của Thành phố.

3. Chuyển đổi số của Hà Nội đang có những bước tiến mạnh mẽ

Thành ủy Hà Nội đã ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TU ngày 30/12/2022 về chuyển đổi số, xây dựng thành phố Hà Nội thông minh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, đã thực sự tạo sự chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức đến hành động tại tất cả các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị của thành phố. Nhiều chương trình, kế hoạch lớn về công nghệ thông tin cho giai đoạn 2021-2025 cũng đã được HĐND Thành phố, UBND Thành phố ban hành: Kiến trúc Chính quyền điện tử thành phố Hà Nội; Chương trình chuyển đổi số thành phố Hà Nội đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Kế hoạch "Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước, phát triển Chính quyền điện tử hướng tới Chính quyền số và đảm bảo an toàn thông tin mạng thành phố Hà Nội giai đoạn 2021-2025"...

Công nghệ thông tin được chú trọng phát triển, ứng dụng mạnh mẽ trong các hoạt động kinh tế, xã hội, nhờ đó, đã đảm bảo tiến độ công việc trong bối cảnh giãn cách xã hội để phòng, chống dịch COVID-19, nhất là đã giải quyết lượng lớn công việc cho người dân và doanh nghiệp nhờ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và cải cách thủ tục hành chính.

Thành phố đã đạt được một số kết quả quan trọng về chuyển đổi số:

- Chỉ số chuyển đổi số cấp tỉnh (DTI) của Hà Nội tăng 37 bậc từ năm 2020 đến 2023. Năm 2024 xếp thứ nhất về chỉ số DTI.

- Hà Nội xếp thứ nhất về chỉ số công nghiệp CNTT theo Báo cáo Vietnam ICT Index 2022.

- Hà Nội xếp thứ hai về chỉ số thương mại điện tử trong 7 năm liên tiếp.

- Hà Nội xếp thứ nhất về chỉ số quản trị điện tử theo Báo cáo PAPI 2023.

Xếp hạng Bộ chỉ số Chuyển đổi số DTI cấp tỉnh


Chỉ tiêu
2020
2021
2022
2023
2024

Thành phố Hà Nội





1
Xếp hạng tổng hợp
43
40
24
6

Điểm tổng hợp
0,2717
0,3535
0,6098
0,7448
0,8241
2
Xếp hạng CQS
48
41
40
32
10

Điểm CQS
0,3168
0,3685
0,6298
0,6794
0,8032
3
Xếp hạng KTS
27
38
18
4

Điểm KTS
0,2619
0,3845
0,681
0,8667
0,9145
4
Xếp hạng XHS
54
47
30
11

Điểm XHS
0,2215
0,3261
0,5895
0,5639
0,886

Đánh giá đóng góp của khoa học - công nghệ, chuyển đổi số vào quá trình Net-Zero tại Hà Nội

Với tiềm lực và vị thế dẫn đầu, Khoa học và Công nghệ tại Hà Nội đã và đang được ứng dụng mạnh mẽ để giải quyết các thách thức môi trường, hướng tới mục tiêu phát triển xanh và Net-Zero carbon.

a. Ứng dụng trong năng lượng, đô thị thông minh và giao thông điện

Hà Nội đang tích cực triển khai các giải pháp công nghệ để giảm phát thải từ các lĩnh vực tiêu thụ năng lượng lớn. Về năng lượng, thành phố khuyến khích và hỗ trợ việc lắp đặt điện mặt trời mái nhà, đặc biệt tại các tòa nhà công cộng, văn phòng và khu công nghiệp. Các công trình nghiên cứu về công nghệ pin lưu trữ và lưới điện thông minh cũng đang được đẩy mạnh để tối ưu hóa việc sử dụng năng lượng tái tạo.

Trong lĩnh vực đô thị, các giải pháp đô thị thông minh (smart city) đang được ứng dụng để quản lý hiệu quả tài nguyên. Các hệ thống giám sát và quản lý môi trường trong cấp nước, xử lý rác thải và bảo vệ môi trường; hệ thống chiếu sáng công cộng thông minh với các đèn LED tiết kiệm năng lượng và các giải pháp tối ưu hóa năng lượng cho tòa nhà đang giúp giảm đáng kể lượng phát thải carbon.

Về giao thông, Hà Nội đang triển khai hệ thống quản lý giao thông thông minh như sử dụng các công nghệ như camera giám sát, cảm biến giao thông và dữ liệu lớn (big data) để điều phối giao thông, giảm tắc nghẽn và nâng cao hiệu quả lưu thông. Đặc biệt, Thành phố đang thúc đẩy chuyển đổi sang giao thông điện; các dự án phát triển xe buýt điện, taxi điện, và xe máy điện đang được triển khai trên diện rộng. Đồng thời, việc xây dựng cơ sở hạ tầng trạm sạc điện cũng được quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân sử dụng phương tiện xanh.

b. Công nghệ xử lý chất thải và mô hình kinh tế tuần hoàn

Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng và vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng, Hà Nội đang tìm kiếm những giải pháp công nghệ và mô hình quản lý chất thải hiệu quả để giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Một trong những hướng đi quan trọng là ứng dụng công nghệ xử lý chất thải và triển khai mô hình kinh tế tuần hoàn, nhằm hướng tới một tương lai bền vững và tiết kiệm tài nguyên.

Các công nghệ xử lý chất thải tiên tiến đóng vai trò then chốt trong việc giảm thiểu ô nhiễm và hướng tới mô hình kinh tế tuần hoàn. Hà Nội đang đầu tư vào các dự án công nghệ đốt rác phát điện nhằm giải quyết vấn đề rác thải đô thị, đồng thời tận dụng chất thải để sản xuất năng lượng sạch. Ngoài ra, Hà Nội còn đầu tư vào các nhà máy thu gom, xử lý nước thải hiện đại giúp giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước, cải thiện chất lượng sống của người dân.

Bên cạnh đó, các mô hình kinh tế tuần hoàn đang dần được hình thành thông qua việc ứng dụng công nghệ để tái chế rác thải nhựa, tái sử dụng nước thải và biến chất thải hữu cơ thành phân bón sinh học. Các dự án nghiên cứu về vật liệu mới từ phế thải nông nghiệp hoặc công nghiệp cũng đang được triển khai, giúp giảm phụ thuộc vào tài nguyên thô và giảm lượng chất thải ra môi trường.

c. Các dự án hợp tác quốc tế về thành phố carbon thấp

Hà Nội tích cực hợp tác với các tổ chức và quốc gia phát triển để học hỏi kinh nghiệm và tiếp nhận công nghệ mới. Nhiều dự án hợp tác quốc tế đã được triển khai, tập trung vào việc xây dựng lộ trình và các giải pháp cụ thể để đạt mục tiêu Net-Zero. Các dự án này thường bao gồm:

Chuyển giao công nghệ: Tiếp nhận công nghệ tiên tiến từ các đối tác như Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước châu Âu trong lĩnh vực năng lượng, xử lý chất thải và giao thông công cộng.

Đào tạo nguồn nhân lực: Hợp tác đào tạo các chuyên gia về biến đổi khí hậu, năng lượng tái tạo và phát triển đô thị bền vững.

Xây dựng chính sách: Tham khảo kinh nghiệm quốc tế để xây dựng các chính sách hiệu quả, thúc đẩy đầu tư và ứng dụng công nghệ xanh tại Hà Nội.

Những nỗ lực này không chỉ giúp Hà Nội giải quyết các thách thức nội tại mà còn củng cố vị thế của thành phố như một hình mẫu tiên phong trong tiến trình phát triển xanh của cả nước.

Khung định hướng và giải pháp khoa học - công nghệ, chuyển đổi số đột phá

Để phát huy tối đa tiềm lực khoa học - công nghệ phục vụ các mục tiêu phát triển bền vững, Hà Nội cần tập trung vào các định hướng và giải pháp mang tính chiến lược, đồng bộ trên nhiều mặt.

a. Đầu tư R&D xanh và ưu tiên công nghệ sạch

Giải pháp cốt lõi là tăng chi ngân sách cho hoạt động R&D xanh, ưu tiên các dự án nghiên cứu và ứng dụng công nghệ thân thiện với môi trường, hướng tới giảm phát thải carbon và sử dụng hiệu quả tài nguyên. Thành phố nên tập trung đầu tư vào các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, giao thông điện, vật liệu xây dựng xanh, công nghệ xử lý chất thải và các giải pháp giảm phát thải công nghiệp, góp phần hình thành hệ sinh thái công nghệ xanh của Thủ đô. Việc có các chính sách tài chính ưu đãi, như quỹ đầu tư mạo hiểm cho các startup công nghệ xanh hoặc các khoản vay ưu đãi cho doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ, sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho toàn bộ nền kinh tế.

b. Hoàn thiện cơ chế kết nối Viện - Trường - Doanh nghiệp

Hiện nay, số lượng doanh nghiệp về khoa học - công nghệ của Hà Nội khoảng 200 doanh nghiệp, cùng hàng nghìn doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo đang hoạt động trong các lĩnh vực công nghệ số, y sinh, nông nghiệp thông minh, đô thị thông minh. Để đưa các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, Hà Nội cần tăng cường kết nối giữa các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Việc xây dựng các vườn ươm doanh nghiệp trong khuôn viên trường đại học, tổ chức các hội chợ công nghệ thường xuyên, và hình thành các trung tâm chuyển giao công nghệ sẽ giúp rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn. Doanh nghiệp có thể đặt hàng nghiên cứu từ các viện, trường để giải quyết bài toán của mình, trong khi các nhà khoa học có cơ hội thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

c. Phát triển nguồn nhân lực liên ngành và ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn

Một trong những yếu tố quyết định là chất lượng nguồn nhân lực. Hà Nội cần tập trung đào tạo và phát triển nguồn nhân lực liên ngành phục vụ cho khoa học - công nghệ xanh, coi đây là nền tảng để thúc đẩy tăng trưởng bền vững và đổi mới sáng tạo; nguồn nhân lực đó cần có kiến thức tổng hợp về cả khoa học - công nghệ, kinh tế, và môi trường.

Các chương trình đào tạo cần được đổi mới, tích hợp các môn học về phát triển bền vững, kinh tế tuần hoàn, năng lượng tái tạo, quản lý đô thị thông minh và biến đổi khí hậu. Việc tổ chức các chương trình đào tạo chuyên sâu, các khóa học ngắn hạn trong và ngoài nước cho các chuyên gia và kỹ sư đang làm việc sẽ giúp cập nhật những công nghệ và xu hướng mới nhất; qua đó giúp nguồn nhân lực của Thủ đô nâng cao được năng lực nghiên cứu, tiếp nhận và ứng dụng công nghệ xanh, góp phần thực hiện được mục tiêu phát triển kinh tế xanh và Net-Zero Carbon.

Trong thời đại số, công nghệ số và dữ liệu lớn (big data) là công cụ không thể thiếu để quản lý và giám sát quá trình chuyển đổi xanh. Hà Nội cần xây dựng một nền tảng dữ liệu chung, tích hợp các dữ liệu về tiêu thụ năng lượng, mức độ phát thải, và chất lượng không khí. Việc khai thác dữ liệu số giúp tối ưu hóa quá trình ra quyết định, giám sát môi trường, quản lý năng lượng và quy hoạch đô thị thông minh; qua đó sẽ giúp chính quyền và doanh nghiệp đưa ra các quyết định chính sách và đầu tư chính xác hơn, đồng thời cho phép người dân dễ dàng giám sát và tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường. Đây là động lực quan trọng để Hà Nội trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và công nghệ xanh của cả nước.

d. Hợp tác quốc tế và học hỏi mô hình thành phố xanh tiên tiến

Việc tăng cường hợp tác quốc tế là một giải pháp then chốt giúp Hà Nội rút ngắn quá trình học hỏi, đẩy nhanh tiến trình ứng dụng các giải pháp tiên tiến trong lộ trình Net-Zero Carbon. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và tốc độ biến đổi công nghệ nhanh chóng, việc tự nghiên cứu và phát triển có thể tốn kém và mất nhiều thời gian. Do đó, Hà Nội cần chủ động tham gia sâu rộng vào các mạng lưới thành phố xanh toàn cầu và học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình đã thành công.

Các đô thị điển hình như Singapore và Seoul là những hình mẫu cụ thể cho việc học hỏi. Hai thành phố này đã minh chứng hiệu quả của việc: (i) Xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo: Tạo ra môi trường thuận lợi để thu hút và nuôi dưỡng các công ty công nghệ, đặc biệt là các startup phát triển giải pháp xanh; (ii) Ứng dụng công nghệ quản lý đô thị: Sử dụng dữ liệu lớn (Big Data) và Internet vạn vật (IoT) để quản lý năng lượng, tối ưu hóa giao thông và xử lý chất thải một cách thông minh và hiệu quả: (iii) Thu hút đầu tư xanh: Áp dụng các chính sách tài chính và ưu đãi thuế để định hướng dòng vốn vào các dự án bền vững.

Việc tham khảo và điều chỉnh các chính sách, mô hình quản lý, và công nghệ từ các đối tác quốc tế không chỉ giúp Hà Nội nâng cao năng lực quản trị và quy hoạch đô thị bền vững mà còn là con đường nhanh nhất để tiếp cận các giải pháp đột phá, đảm bảo Thành phố có những bước đi hiệu quả hơn trong lộ trình đạt mục tiêu Net-Zero Carbon./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Khoa học và Công nghệ. (2022). Chiến lược phát triển KH&CN và đổi mới sáng tạo đến năm 2030.
  2. Bộ Khoa học và Công nghệ. (2025). Chỉ số Đổi mới sáng tạo cấp tỉnh (PII) 2025.
  3. Bộ Tài nguyên và Môi trường. (2022). Chiến lược Quốc gia về Tăng trưởng Xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050.
  4. Thành ủy Hà Nội. (2021). Chương trình số 07-CTr/TU về đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2021-2025.
  5. UBND thành phố Hà Nội. (2020). Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh thành phố Hà Nội đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
  6. IPCC. (2022). Climate Change 2022: Mitigation of Climate Change. Contribution of Working Group III to the Sixth Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change. Cambridge University Press.
  7. OECD. (2021). The OECD Handbook for the Governance of Green Cities. OECD Publishing.
  8. UN-Habitat. (2020). World Urbanization Prospects: The 2018 Revision. United Nations.
  9. UN-Habitat (2023). Green and Smart Cities Framework for Sustainable Urban Development.
  10. World Bank. (2022). Vietnam: Country Climate and Development Report. World Bank Group.
  11. https://nongnghiepmoitruong.vn/tong-bi-thu-to-lam-nganh-nong-nghiep-va-moi-truong-luon-dong-hanh-cung-dan-toc-la-tru-cot-nen-kinh-te-d783839.html
  12. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-du-thao-cac-van-kien-dai-hoi-xiv-cua-dang-119251015163630117.htm

Anh Tuấn