Tỉnh Quảng Ninh và hành trình xanh hóa công nghiệp: Định hình cực tăng trưởng bền vững của vùng Đông Bắc

Hà Thị Bằng Linh 28/11/2025 00:00

Trong bối cảnh Việt Nam cam kết phát thải ròng “net-zero” vào giữa thế kỷ, việc một địa phương từng phụ thuộc vào khai khoáng như Quảng Ninh chuyển mình mạnh mẽ sang công nghiệp xanh, công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ - du lịch và thu hút đầu tư chất lượng cao trở thành câu chuyện đáng ghi nhận. Quảng Ninh không chỉ là “thủ phủ than” của ngày trước mà là “cực tăng trưởng xanh” cho tương lai.

Công nhân làm việc trên dây chuyền lắp ráp tại nhà máy ô tô Thành Công Việt Hưng_Ảnh: nguoiduatin.vn

Chuyển dịch cơ cấu và bứt phá sau khai khoáng

Đầu năm 2025, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh công bố số liệu của năm 2024: tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) theo giá hiện hành đạt 347,5 nghìn tỉ đồng, với cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch rõ rệt: khu vực nông - lâm - thủy sản chiếm 4,5%; công nghiệp - xây dựng chiếm phần lớn; dịch vụ chiếm tỷ trọng đáng kể.

Đà chuyển dịch rõ nhất thể hiện trong 9 tháng đầu năm 2025: GRDP ước tăng 11,66% so với cùng kỳ, đây cũng là mức tăng cao nhất qua 10 năm trở lại đây (trong khi các năm đều dao động từ 8,02% đến 10,12%). 

Đặc biệt, ngành chế biến, chế tạo chứng kiến bước bứt phá mạnh mẽ: tăng 24,07%, đóng góp 3,29 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung, chiếm khoảng 15,21% GRDP toàn tỉnh. 

Cùng thời gian, khu vực dịch vụ - du lịch cũng không ngừng mở rộng, tăng khoảng 15,18%, đóng góp lớn vào cơ cấu GRDP.

Một minh chứng cho sức sống mới của nền kinh tế Quảng Ninh là lĩnh vực đầu tư, cả trong nước lẫn quốc tế. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2025 đạt 61.858 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 292,01 triệu USD. 

Cụ thể, tỉnh Quảng Ninh đã cấp mới giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 12 dự án FDI với tổng vốn 173,64 triệu USD và 10 lượt dự án điều chỉnh tăng vốn thêm 116,47 triệu USD. 

Bên cạnh đó, 1.150 doanh nghiệp thành lập mới, nâng tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn lên hơn 11.400 doanh nghiệp.

Không những thế, trong 9 tháng đầu năm 2025, tổng vốn đầu tư vào các khu công nghiệp và khu kinh tế trên địa bàn đạt khoảng 98.509,5 tỷ đồng, trong đó vốn FDI đạt khoảng 330,8 triệu USD, phản ánh rõ sức hút đầu tư mạnh mẽ của các khu công nghiệp, khu kinh tế theo định hướng mới.

Nhờ đó, Quảng Ninh không những duy trì được tăng trưởng mà còn tái cấu trúc được nền kinh tế giảm dần sự phụ thuộc vào khai khoáng, mở rộng công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ, du lịch và các ngành có giá trị gia tăng cao; đặt nền móng quan trọng cho phát triển bền vững trong dài hạn.

Tỉnh Quảng Ninh đặt mục tiêu năm 2025 phấn đấu GRDP đạt 14%, cho thấy quyết tâm cao để biến Quảng Ninh thành cực tăng trưởng trong vùng Bắc Bộ. 

Những con số mới nhất cho thấy, Quảng Ninh đã “thoát” khỏi cái bóng của ngành than và đang chuyển mình, khẳng định vị thế mới trong bản đồ kinh tế Việt Nam.

Khát vọng phát triển bền vững

Sự tăng vọt 24,07% của ngành chế biến, chế tạo trong 9 tháng đầu năm 2025 không phải ngẫu nhiên. Đây là kết quả của chiến lược thu hút FDI và đầu tư trong nước vào các ngành sử dụng công nghệ cao, thân thiện môi trường, ít phụ thuộc tài nguyên thiên nhiên trái với mô hình khai khoáng truyền thống.

Nhiều dự án FDI mới được cấp giấy chứng nhận trong năm 2025 là những nhà máy công nghệ, chế tạo sạch, với tiêu chuẩn môi trường cao, sử dụng công nghệ hiện đại, có chuỗi cung ứng tinh gọn và khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn.

Đồng thời, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của tỉnh 8 tháng đầu năm 2025 tăng khoảng 15,6%, với tháng 8 riêng ngành chế biến, chế tạo tăng tới 33,9% so với cùng kỳ. 

Đây là minh chứng rõ rệt cho quá trình “xanh hóa” công nghiệp: không còn phụ thuộc khai khoáng nặng mà chuyển sang sản xuất sạch, hiện đại, bền vững, ít phát thải, ít gây ô nhiễm phù hợp xu hướng toàn cầu và tiêu chí thu hút đầu tư chất lượng cao.

Không chỉ tập trung vào FDI, Quảng Ninh trong 9 tháng năm 2025 ghi nhận dòng vốn đầu tư trong nước (DDI) tăng mạnh với nhiều dự án quy mô lớn, trong và ngoài khu công nghiệp. Theo báo cáo, vốn DDI đạt gần 90.085 tỷ đồng trong khi FDI đạt khoảng 330,8 triệu USD. 

Các dự án “xanh” đề xuất trong năm 2025 cũng cho thấy xu hướng mới: có đề xuất xây dựng tổ hợp “kinh tế tuần hoàn năng lượng xanh” (GH2) với quy mô tới 5 tỷ USD; có dự án hạ tầng giao thông hiện đại qua Vịnh Cửa Lục theo phương thức PPP tất cả thể hiện định hướng phát triển bền vững, xanh, đồng bộ.

Quảng Ninh cũng siết chặt tiêu chí đầu tư: ưu tiên công nghệ cao, ít phát thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên, đồng thời cải thiện môi trường đầu tư rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính, tích hợp thanh toán trực tuyến, giảm chi phí cho doanh nghiệp. 

Cơ chế này không chỉ thu hút lượng vốn lớn mà hướng đến chất lượng đầu tư bảo đảm rằng mỗi dự án đều phù hợp với định hướng phát triển xanh, hiện đại và bền vững lâu dài.

Mặc dù số liệu chính thức về phát thải, môi trường và năng lượng tái tạo của tỉnh chưa được cập nhật rộng rãi trong các báo cáo công khai năm 2025, nhưng xu hướng rõ ràng: công nghiệp chế biến chế tạo tăng mạnh, sử dụng công nghệ, ít phụ thuộc tài nguyên vốn là tín hiệu của “công nghiệp sạch”. 

Kể cả khi ngành than vẫn tồn tại, cơ cấu kinh tế và đầu tư FDI/ DDI mới đang dịch chuyển mạnh sang những lĩnh vực ít gai góc về môi trường.

Bên cạnh đó, Quảng Ninh đang ưu tiên các khu công nghiệp, khu kinh tế mới với quy hoạch hiện đại, đồng bộ sẵn sàng cho mô hình phát triển xanh, công nghiệp thân thiện môi trường và dịch vụ - logistics hiện đại.

Đến năm 2030, Quảng Ninh đặt mục tiêu toàn bộ khu công nghiệp và khu kinh tế đạt tiêu chuẩn xanh, vận hành theo mô hình kinh tế tuần hoàn trong sử dụng nước và xử lý chất thải rắn. 

Đây không chỉ là định hướng phát triển bền vững, mà còn được kỳ vọng trở thành lợi thế cạnh tranh để địa phương thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của các nhà đầu tư quốc tế.

Hiện Quảng Ninh có 8 khu công nghiệp, 2 khu kinh tế ven biển và 3 khu kinh tế cửa khẩu. Dù chưa có mô hình nào đạt chuẩn sinh thái toàn diện, nhưng nhiều doanh nghiệp hạ tầng đã tiên phong chuyển đổi. 

Khu công nghiệp Bắc Tiền Phong, AMATA đang được quy hoạch theo hướng sinh thái; Khu công nghiệp Đông Mai, Texhong Hải Hà vận hành hệ thống xử lý nước thải tự động; Công ty Shinec tại Đầm Hà B triển khai giám sát phát thải trực tuyến theo thời gian thực.

Tỉnh Quảng Ninh cũng duy trì 100% số khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt chuẩn, với tổng công suất 65.400m³/ngày đêm. Một số khu công nghiệp đã nâng cấp đáng kể hạ tầng môi trường như Texhong Hải Hà (15.000m³/ngày đêm, quan trắc tự động liên tục) hay Bạch Đằng (mở rộng từ 8.000 lên 12.000m³/ngày đêm).

Song song cải thiện hạ tầng, Quảng Ninh đã trở thành điểm đến của nhiều tập đoàn công nghệ cao như Foxconn, TCL, Jinko, Autoliv, Texhong hay Tập đoàn Thành Công. 

Sự xuất hiện của những dự án này không chỉ mang lại việc làm, mà còn tạo động lực để địa phương nâng cao tiêu chuẩn môi trường, đáp ứng yêu cầu “xanh” từ chuỗi cung ứng toàn cầu.

Sản xuất tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Texhong Liên hợp Việt Nam_Ảnh: TL
Điều kiện để giữ tốc độ xanh hóa

Dù đạt nhiều thành tựu ấn tượng, con đường phía trước để đưa Quảng Ninh thành “cực tăng trưởng xanh miền Bắc” vẫn đầy thử thách.

Thứ nhất, việc giữ cân bằng giữa phát triển nhanh và bảo đảm môi trường vẫn là bài toán khó bởi dù công nghiệp chế biến, chế tạo ít gây ô nhiễm hơn khai khoáng, nhưng tăng trưởng số lượng doanh nghiệp, nhà máy, khu công nghiệp đòi hỏi hệ thống quản lý môi trường, xử lý chất thải, giám sát phát thải,... phải đồng bộ và chuyên nghiệp. Nếu không, áp lực lên môi trường, hạ tầng sẽ rất lớn.

Thứhai, mặc dù nhiều dự án FDI, DDI đã được cấp phép, câu chuyện hiệu quả dài hạn về công nghệ, chuỗi cung ứng, tạo việc làm chất lượng cao còn phụ thuộc vào chính sách, quản trị và khả năng kết nối của doanh nghiệp địa phương. Việc thu hút vốn “sạch” và giữ cho dòng vốn đó vận hành bền vững và có giá trị gia tăng cao là một bài toán khó cho tỉnh.

Thứ ba,trong bối cảnh toàn cầu hóa và tăng trưởng xanh, nhu cầu về nhân lực kỹ thuật cao, công nhân lành nghề cả trong chế biến, công nghệ cao, logistics, dịch vụ ngày càng lớn; Quảng Ninh cần nâng cấp hệ thống đào tạo nghề, hợp tác doanh nghiệp trường học, thu hút nhân lực chất lượng cao để đáp ứng đòi hỏi mới.

Thứ tư,dù đặt mục tiêu GRDP 14% năm 2025, thành công không chỉ phụ thuộc vào chính quyền mà cần sự đồng thuận của doanh nghiệp, nhà đầu tư, dân cư và xã hội. Nếu chỉ “chạy theo số lượng”, khu công nghiệp dày đặc, thiếu quản lý môi trường, thiếu kiểm soát phát triển đô thị, Quảng Ninh dễ lặp lại các hệ lụy của mô hình khai khoáng: áp lực môi trường, hạ tầng, bất ổn xã hội. 

Vì thế, song hành với phát triển công nghiệp xanh, tỉnh Quảng Ninh cần phát triển thể chế quản lý hiện đại, công khai, tăng cường giám sát môi trường, phát triển hạ tầng xã hội, kỹ thuật, và đặc biệt xây dựng văn hóa phát triển bền vững, kỷ luật đầu tư, minh bạch và trách nhiệm xã hội.

Với nền tảng hạ tầng, môi trường đầu tư, chính sách rõ ràng, cộng đồng doanh nghiệp và định hướng phát triển mới, tỉnh Quảng Ninh đang lựa chọn một con đường dẫu không dễ nhưng rất rõ ràng: phát triển theo chiều sâu xanh, sạch, hiện đại với khát vọng không chỉ vươn lên mạnh mẽ mà bền vững./.

Hà Thị Bằng Linh