Phát triển nguồn nhân lực số của Quảng Ninh khi bước vào kỷ nguyên mới: Vấn đề và giải pháp

Kinh tế số - xu hướng của thời đại, lựa chọn của các quốc gia
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã thúc đẩy sự ra đời của mô hình kinh tế số. Nếu coi kinh tế số là “quả ngọt” thì chuyển đổi số - quá trình sử dụng dữ liệu và các công nghệ số để thay đổi phương thức phát triển, thay đổi tổng thể và toàn diện cách sống và cách làm việc của con người và tổ chức, chính là “gốc rễ” nuôi dưỡng.
Trong kỷ nguyên mới, kinh tế số không chỉ là một xu thế, mà đã trở thành động lực cho sự chuyển đổi và phát triển của mỗi quốc gia, mở ra không gian cho các mô hình kinh doanh hoàn toàn mới. Năng suất lao động gia tăng, các giới hạn của thị trường truyền thống bị phá vỡ, mọi doanh nghiệp đều có thể vươn ra “biển lớn”. Kinh tế số tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, và đương nhiên nó cũng đòi hỏi một nguồn nhân lực tương xứng.
Quản trị nhân sự toàn cầu đang dịch chuyển từ “quản trị nhân lực” sang “quản trị năng lực”. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), hơn một tỷ lao động trên thế giới có nguy cơ phải “tái nghề” nếu không được trang bị kỹ năng số.
Từ năm 2022, nhiều tổ chức, đặc biệt ở châu Âu, đã ban hành các khung năng lực số như DigComp để xác định kỹ năng số cần thiết cho lao động. Các quốc gia thường tập trung vào 6 năng lực cốt lõi: sử dụng công nghệ số, khai thác thông tin và dữ liệu, giao tiếp và tương tác số, bảo đảm an toàn thông tin, tư duy phản biện và giải quyết vấn đề, đổi mới và sáng tạo.
Trong thời đại chuyển đổi số, nhân lực số là lực lượng lao động thuộc mọi lĩnh vực, sở hữu kiến thức, kỹ năng và năng lực cần thiết để làm chủ công nghệ số, thích ứng nhanh với môi trường kỹ thuật số, và tham gia tích cực vào quá trình xây dựng, phát triển nền kinh tế số.
Nói một cách khác, đây là lực lượng có năng lực làm chủ các thiết bị công nghệ số trong quá trình làm việc; có khả năng thích ứng với môi trường lao động và tiến bộ khoa học, công nghệ mới; có tác phong kỷ luật và đạo đức trong công việc; có khả năng tư duy đột phá trong công việc, hay còn gọi là tính sáng tạo.
Hệ sinh thái chuyển đổi số ở Việt Nam đang định hình trong thực tiễn. Trong hệ sinh thái chuyển đổi số, nguồn nhân lực sẽ là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt, giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt sự phát triển.
Thành tựu được ghi nhận
Quảng Ninh có một vị trí địa - kinh tế, địa - chính trị quan trọng, là địa phương duy nhất có cả đường biên giới trên bộ và trên biển với Trung Quốc, là nền tảng để thúc đẩy phát triển thương mại biên mậu, trao đổi hàng hóa và dịch vụ với quốc gia đông dân nhất thế giới.
Quảng Ninh cũng là nơi giao thoa, kết nối giữa vùng Trung du và miền núi phía Bắc và vùng đồng bằng sông Hồng. Đây cũng là địa phương có nhiều đảo nhất cả nước, có bờ biển dài nhất của vùng đồng bằng sông Hồng, góp phần đưa Quảng Ninh trở thành một trong ba cực phát triển quan trọng nhất của toàn vùng.
Cơ cấu kinh tế của tỉnh Quảng Ninh đang chuyển dịch theo hướng bền vững, từ nâu sang xanh, từ du lịch “bình dân” sang du lịch nghĩ dưỡng, tham quan, du lịch sinh thái rừng núi, biển, đảo chất lượng cao. Công nghiệp chế biến chế tạo và dịch vụ tăng trưởng nhanh và đóng góp ngày càng tăng vào nền kinh tế tỉnh.
Những đột phá trong cải cách hành chính đã giúp Quảng Ninh dẫn đầu trên cả nước về năng lực cạnh tranh của môi trường kinh doanh và đầu tư. Quảng Ninh có 6 năm liên tiếp (2017 - 2022) giữ vị trí quán quân Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), 5 năm dẫn đầu Chỉ số cải cách hành chính (PAR Index), 4 năm dẫn đầu bảng xếp hạng Chỉ số đo lường sự hài lòng của người dân về sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước (SIPAS) và 2 năm dẫn đầu vị trí xếp hạng Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI).
Báo cáo phân tích PCI năm 2024 cho thấy những chuyển biến tích cực trong nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, xếp vị trí thứ 2 bảng xếp hạng các tỉnh, thành phố có chất lượng điều hành tốt nhất năm 2024. Chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT Index) thuộc nhóm 3 địa phương dẫn đầu cả nước 4 năm liên tiếp (2020 - 2023).
Những năm qua, Quảng Ninh đã ưu tiên đầu tư hạ tầng số đồng bộ, hiện đại, lấy dữ liệu làm trọng tâm để phát triển. Tỉnh đã đưa vào vận hành Trung tâm tích hợp dữ liệu tỉnh Quảng Ninh, hoàn thành kết nối, tích hợp và chia sẻ dữ liệu thông qua nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp tỉnh (LGSP), đồng thời kết nối với trục liên thông quốc gia (NGSP). Một điểm nhấn quan trọng là việc đưa vào vận hành Trung tâm điều hành thông minh (IOC), cho phép giám sát, phân tích dữ liệu đa lĩnh vực như hành chính công, giao thông, y tế, giáo dục, môi trường… theo thời gian thực.
Trong giai đoạn 2020 -2025, tỉnh đã đầu tư đáng kể hạ tầng công nghệ thông tin cho vùng dân tộc thiểu số. Nhờ đó, đến nay, tỷ lệ vùng phủ sóng thông tin di động trên địa bàn tỉnh đạt 99,8% các khu vực dân cư; hạ tầng internet băng rộng đã được triển khai tại 100% xã, phường. Tỷ lệ hộ gia đình có kết nối cáp quang đạt 92,84%.
Hạ tầng số đã góp phần cho việc thực hiện giải quyết thủ tục hành chính phi địa giới hành chính được thuận lợi, hiệu quả. Toàn tỉnh đã hoàn tất công bố và niêm yết 1.397 thủ tục hành chính, bao gồm 1.118 thủ tục cấp tỉnh và 279 thủ tục cấp xã. Tất cả đều được cập nhật trên Cổng Dịch vụ công quốc gia và công khai tại các trung tâm phục vụ hành chính công.
Quảng Ninh còn đặc biệt chú trọng đẩy mạnh phong trào “Bình dân học vụ số”, trong đó, tập trung phổ cập kỹ năng công nghệ cho mọi tầng lớp nhân dân. Công tác bồi dưỡng cán bộ cũng được chú trọng với 13 lớp đào tạo về cải cách hành chính và chuyển đổi số, thu hút hơn 2.200 lượt công chức tham gia. Đến nay, Quảng Ninh đã “vươn lên trở thành một trong những tỉnh đi đầu trong công cuộc đổi mới sáng tạo của vùng đồng bằng Bắc Bộ, một cực tăng trưởng của khu vực phía Bắc”.
Những vấn đề đặt ra
Bên cạnh những kết quả được khẳng định, nhìn nhận trên nhiều khía cạnh và bình diện khác nhau, Quảng Ninh chưa khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế biển, du lịch; kinh tế đêm, công nghiệp văn hóa, kinh tế số. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa xứng tầm trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực, nhất là quản lý tài nguyên, khoáng sản, đầu tư công, đất đai, quản lý xã hội có mặt còn hạn chế. Quy mô, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã trên địa bàn chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của tỉnh.
Nhìn chung, quá trình phát triển của Quảng Ninh trong những năm tới sẽ tiếp tục phải đối diện với những mâu thuẫn, thách thức: Duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định trên 2 con số đến năm 2030 với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát triển bền vững; phát triển công nghiệp, đặc biệt là than, nhiệt điện, đô thị hóa nhanh với phát triển dịch vụ, du lịch trên cùng địa bàn và quá trình thực hiện chuyển đổi xanh; xây dựng Quảng Ninh sớm trở thành trung tâm du lịch mang tầm quốc tế hàng đầu ở Đông Nam Á, là cửa ngõ, động lực phát triển của vùng... với nguồn lực còn hạn hẹp, chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư chiến lược có tiềm lực, uy tín, thương hiệu.
Tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú, vị trí địa lý thuận lợi trong giao lưu quốc tế, nguồn lao động rẻ… là những lợi thế hiện có của Quảng Ninh. Tuy nhiên, lợi thế này thường không vững chắc và chỉ mang tính ngắn, trung hạn (5- 7 năm) nếu như các điều kiện sản xuất vốn có không được liên tục tái tạo, phát triển lên một mức độ cao hơn.
Dư địa cho tăng trưởng dựa vào sự thâm dụng sẽ không còn dài. Với xu hướng khu vực hóa đang diễn ra một cách mạnh mẽ, chọn một vị trí thích hợp để tồn tại và thăng hoa giá trị của mình chính là sự lựa chọn quan trọng nhất của mỗi địa phương hay mỗi doanh nghiệp nhằm khẳng định vai trò và vị thế của mình trong một thế giới rộng lớn và biến đổi từng ngày, từng giờ.
Trên bình diện khu vực và thế giới, kinh tế số và kinh tế xanh là những phương thức phát triển được lựa chọn. Muốn tăng trưởng nhanh, nhưng bền vững thì lối mở hay giải pháp tối ưu cho Quảng Ninh trong bối cảnh hiện nay là đẩy nhanh tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và tăng trưởng số. Tuy nhiên, thực tiễn Quảng Ninh cho thấy tốc độ số hóa đang diễn ra khá nhanh tại các đô thị, nhưng vẫn có sự chênh lệch về tiếp cận hạ tầng số giữa các địa bàn.
Bên cạnh đó, tình trạng thiếu kỹ năng sử dụng thiết bị số, ngân hàng điện tử, dịch vụ công trực tuyến vẫn phổ biến tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số (Quảng Ninh có 22 dân tộc thiểu số, sinh sống ở khu vực miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa phía đông của tỉnh, các cộng đồng dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu, Sán Chay, Hoa chiếm số đông).
Chất lượng nguồn nhân lực ở nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Kỹ năng số, tư duy công nghệ, sáng tạo và khả năng thích ứng - vẫn là điểm nghẽn lớn. Nhiều doanh nghiệp thiếu hụt nhân lực trong các lĩnh vực như dữ liệu lớn, AI, an ninh mạng, phân tích kinh doanh. Thiếu sự hỗ trợ thích đáng, liên kết chặt chẽ giữa nhà nước - doanh nghiệp - cơ sở đào tạo.
Chương trình đào tạo của trường đại học, cao đẳng, trung tâm dạy nghề vẫn nặng lý thuyết. Ở cácdoanh nghiệp, nhiều nhân viên đã quen với cách làm truyền thống; tâm lý sợ bị thay thế, sợ học cái mới khiến quá trình triển khai chuyển đổi số bị trì trệ. Nhiều nhân viên chưa thành thạo các công cụ như Chat GPT, Canva AI, CRM hay phần mềm phân tích dữ liệu khách hàng, khiến doanh nghiệp khó khai thác hiệu quả công nghệ đã đầu tư. Nhân sự chưa có khả năng xử lý, phân tích dữ liệu một cách cơ bản.
Các công cụ hỗ trợ như chat GPT, Notion AI, hay chatbot nội bộ thường bị bỏ qua hoặc chỉ sử dụng ở mức sơ khai, khiến doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội tối ưu hiệu suất. Doanh nghiệp thường tập trung triển khai phần mềm, mua license, đầu tư hạ tầng… nhưng lại thiếu chiến lược rõ ràng trong việc nâng cao năng lực số cho nhân sự. Không ít nơi chỉ tổ chức vài buổi đào tạo thiếu bài bản hoặc không phân nhóm đào tạo theo chức năng, khiến nhân viên khó ứng dụng vào công việc thực tế.
Giải pháp cho thời gian tới
Để đạt được mục tiêu đến năm 2030, Quảng Ninh là một tỉnh giàu đẹp, văn minh, hiện đại, nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân; cực tăng trưởng của khu vực phía Bắc; một trong những trung tâm phát triển năng động, toàn diện; trung tâm du lịch quốc tế, trung tâm kinh tế biển, cửa ngõ của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước; đô thị phát triển bền vững theo mô hình tăng trưởng xanh; là khu vực phòng thủ tỉnh vững chắc về quốc phòng - an ninh và phòng tuyến hợp tác, cạnh tranh kinh tế quốc tế; đến năm 2050,Quảng Ninh là tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, vùng đô thị lớn mang tầm khu vực và quốc tế, là một trong những đầu tàu thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia với động lực tăng trưởng chính là dịch vụ, du lịch, đổi mới sáng tạo, có cơ sở kinh tế vững chắc, sức cạnh tranh cao; người dân có mức thu nhập cao; phát triển kinh tế hài hòa giữa các khu vực đô thị và nông thôn; đảm bảo vững chắc quốc phòng - an ninh, Quảng Ninh cần đẩy nhanh quá trình chuyển đổi từ chính quyền điện tử sang chính quyền số, thực hiện chuyển đổi số để quản lý và sử dụng hiệu quả di sản du lịch, danh lam thắng cảnh, phát triển du lịch xanh, thông minh; sản xuất công nghiệp và cung ứng dịch vụ logistics, y tế và giáo dục thông minh…
Với Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh:
Để xây dựng chính quyền số, vận hành trên nguyên tắc “Một hệ thống thống nhất - Một dữ liệu duy nhất - Một dịch vụ liền mạch”, cần phải cókế hoạch phát triển dữ liệu lớn giai đoạn 2026-2030,bước đi chiến lược, đưa Quảng Ninh tiến gần hơn mục tiêu trở thành địa phương đi đầu trong chuyển đổi số.
Theo đó, hạ tầng và kho dữ liệu; tạo lập và phát triển dữ liệu lớn; ứng dụng dữ liệu lớn là 3 nhóm vấn đề cần được đặc biệt lưu tâm; trong đó dữ liệu hành chính và quản lý nhà nước; dữ liệu kinh tế và doanh nghiệp; dữ liệu giao thông và đô thị thông minh; dữ liệu tài nguyên và môi trường; dữ liệu y tế và an sinh xã hội; dữ liệu giáo dục và đào tạo; dữ liệu văn hóa, du lịch và xã hội; dữ liệu an ninh và an toàn thông tin; dữ liệu nông nghiệp và phát triển nông thôn; dữ liệu tài chính và ngân hàng… là những nội dung hết sức quan trọng (những dữ liệu mang tính đặc thù của Quảng Ninh).
Dữ liệu hình thành từ hoạt động của cơ quan nhà nước là tài sản chung, cần được bảo tồn, chia sẻ và khai thác để phục vụ tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm chia sẻ dữ liệu, đồng thời việc quản lý, tích hợp, khai thác phải tuân thủ các quy định pháp luật về an toàn thông tin mạng.
Trong ngắn hạn, cần đẩy mạnh chương trình đào tạo ngắn hạn, tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng số cho đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước có kiến thức về dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng. Phối hợp với các trường đại học, cao đẳng và viện nghiên cứu trên địa bàn và vùng đồng bằng sông Hồng để triển khai các chương trình đào tạo chuyên sâu về AI, Big Data, Blockchain, an ninh mạng và các công nghệ mới nổi khác.
Thiết lập bản đồ nhân lực số và hệ thống dự báo cung - cầu lao động số theo ngành/lĩnh vực. Trong đó bao gồm phát triển nền tảng dữ liệu mở về nhân lực số, tích hợp từ cơ quan quản lý nhà nước, trường đại học, doanh nghiệp và trung tâm dịch vụ việc làm, ứng dụng AI và phân tích dữ liệu lớn để dự báo xu hướng kỹ năng và điều chỉnh chính sách đào tạo phù hợp.
Về dài hạn, cần xây dựng hệ sinh thái giáo dục, đào tạo tích hợp kỹ năng số theo mô hình mở như thiết lập các trung tâm đổi mới sáng tạo và kỹ năng số đặt tại một số địa bàn, hoạt động như “Hub” đào tạo, nghiên cứu và thực hành công nghệ số. Khuyến khích các trường đại học, cao đẳng liên kết với doanh nghiệp để phát triển chương trình đào tạo tích hợp kỹ năng số chuyên sâu theo mô hình Dual system (học đi đôi với hành).
Công chức, viên chức không thể chỉ tuyển chọn theo bằng cấp, thâm niên hay những bài thi thường áp dụng. Cần chuyển dần theo cơ chế cạnh tranh giống khu vực tư nhân: phỏng vấn để điều tra năng lực, trình bày kế hoạch công việc để đánh giá tư duy tầm nhìn và khả năng thích ứng với công nghệ mới.
Mở cửa cho thế hệ trẻ, những người am hiểu kinh tế số, có tư duy đổi mới sáng tạo, để họ trở thành động lực trẻ hóa bộ máy. Khi bộ máy công quyền được tái tạo liên tục bởi năng lượng mới, Nhà nước mới có thể vận hành linh hoạt và bắt kịp với tốc độ thay đổi của thị trường.
Sau sắp xếp, tỉnh Quảng Ninh có 54 đơn vị hành chính cấp xã, gồm: 22 xã, 30 phường và 2 đặc khu (Vân Đồn và Cô Tô). Chính quyền địa phương 2 cấp không chỉ là sự thay đổi về mô hình tổ chức, mà còn là bước chuyển trong cách tiếp cận chính quyền số, phục vụ chuyên nghiệp, hiện đại và minh bạch.
Bên cạnh những kết quả tích cực, hoạt động của mô hình mới chính quyền địa phương 2 cấp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh cũng còn bộc lộ một số khó khăn, hạn chế, vướng mắc như: việc bố trí, phân bổ đội ngũ công chức có chuyên môn từ cấp huyện xuống cấp xã; một số phần mềm phục vụ cho hoạt động của các trung tâm phục vụ hành chính công còn lỗi trong quá trình vận hành, kết nối liên thông từ trung ương đến các địa phương chưa ổn định. Hạ tầng kỹ thuật, máy móc, phần mềm vẫn chưa đồng bộ. Nhân lực công nghệ thông tin tại cơ sở còn mỏng, cần đào tạo sâu hơn.
Khả quan khi nhìn vào con số, tuy nhiên, kết quả PCI 2024 cũng chỉ ra những tồn tại cần khắc phục, đặc biệt là tính năng động của bộ máy chính quyền địa phương. Cần có kế hoạch “Bình dân học vụ số” với mục tiêu rõ ràng. Biến kế hoạch này thành phong trào cộng đồng thường xuyên, huy động đoàn viên, học sinh, sinh viên cùng tham gia.
Cán bộ phường, xã cần được hướng dẫn cách ứng dụng AI trong công việc xử lý văn bản, tìm kiếm và trích xuất thông tin, hỗ trợ dịch thuật, tự động hóa quy trình, phân tích dữ liệu. Gắn chuyển đổi số với các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Nghiên cứu triển khai và nhân rộng các mô hình: “Đại sứ số”, “Gia đình số”, “Chợ số cộng đồng”, “Mỗi công dân - Một danh tính số”.
Tỉnh Quảng Ninh cần có chính sách thu hút và giữ chân nhân tài số như ưu đãi thuế thu nhập cá nhân, hỗ trợ nhà ở và phát triển môi trường làm việc sáng tạo cho chuyên gia công nghệ, xây dựng mạng lưới chuyên gia trong lĩnh vực kỹ thuật số để kết nối và chia sẻ tri thức.
Với các doanh nghiệp:
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, lực lượng sản xuất - với đặc trưng là sử dụng công nghệ số, dữ liệu lớn, kỹ năng cao và năng lực sáng tạo - trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia.
Việc gia nhập các chuỗi giá trị toàn cầu, đặc biệt là chuỗi giá trị có giá trị gia tăng cao sẽ không thể thực hiện nếu doanh nghiệp không đáp ứng được chuẩn mực toàn cầu về năng lực công nghệ, tốc độ đổi mới và độ tin cậy trong vận hành.
Hiểu rõ nhân lực số là gìchính là bước đi đầu tiên để doanh nghiệp xây dựng một chiến lược phát triển nguồn nhân lực phù hợp với thời đại AI và chuyển đổi số. Nhân lực số không còn là lựa chọn, mà là điều kiện bắt buộc nếu doanh nghiệp muốn tồn tại và bứt phá.
Điều cần lưu ý là phát triển nhân lực số phải là chiến lược dài hạn chứ không chỉ là một chiến dịch mang tính phong trào. Doanh nghiệp hoàn toàn có thể nâng cấp đội ngũ hiện có thông qua các chương trình đào tạo bài bản và thực tiễn (chương trình đào tạo phải gắn với thực tế công việc và áp dụng ngay).
Doanh nghiệp có thể kết hợp đào tạo trực tuyến và trực tuyếp, chia theo từng nhóm đối tượng (marketing, sales, vận hành...), lồng ghép với thực hành để nhân viên không chỉ hiểu mà còn làm được. Ưu tiên đào tạo những công cụ gần gũi với công việc như: Marketing, content: ChatGPT, Canva AI, Notion AI; bán hàng: CRM tích hợp AI, chatbot bán hàng, phân tích dữ liệu khách hàng; vận hành: Microsoft Copilot, Google Sheets AI, tự động báo cáo bằng AI; gợi ý nhân viên sử dụng các nền tảng như Coursera, Udemy, Google Skillshop, LinkedIn Learning... kèm theo tài trợ học phí, tạo “giờ học công nghệ” định kỳ trong tuần.
Việc đầu tư vào đào tạo nhân sự số không chỉ là lựa chọn mà là điều kiện để tồn tại. Đào tạo lại trở thành yếu tố sống còn của doanh nghiệp. Quá trình này đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa doanh nghiệp, người lao động, Nhà nước cùng sự tham gia của các cơ sở đào tạo để hình thành hệ sinh thái học tập suốt đời.
Kinh nghiệm cho thấy, một trong những yếu tố cốt lõi để phát triển nhân lực số bền vững không nằm ở công nghệ hay công cụ, mà chính là văn hóa doanh nghiệp - nơi mà mỗi nhân viên được khuyến khích đổi mới, dám thử nghiệm và chủ động học hỏi cái mới.
Không có văn hóa số, mọi nỗ lực đào tạo hay tuyển dụng đều có nguy cơ trở thành điểm “nghẽn” vì sự trì trệ từ bên trong. Các CEO, quản lý cấp trung nên bình thường hóa việc sử dụng công cụ số trong hội họp, ra quyết định, quản trị... để tạo ra sự thói quen và niềm tin cho toàn tổ chức.
Doanh nghiệp nên tạo môi trường mà trong đó nhân viên được phép thử nghiệm công cụ mới, phương pháp làm việc mới. Tổ chức các buổi chia sẻ định kỳ về công cụ AI mới, mini hackathon nội bộ, hoặc cuộc thi “ứng dụng công nghệ vào cải tiến quy trình”. Doanh nghiệp cần lồng ghép chỉ tiêu ứng dụng công nghệ vào quy trình làm việc, báo cáo, sáng tạo nội dung, phân tích dữ liệu... vào KPI cá nhân hoặc nhóm.
Đẩy mạnh liên kết đào tạo giữa các nhà trường, doanh nghiệp. Xây dựng hệ sinh thái liên kết chuyển giao 3 bên doanh nghiệp, nhà trường và người học nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo, cập nhật về kỹ thuật, công nghệ cũng như nhu cầu học tập cho các lứa tuổi. Đa dạng hóa hình thức (đào tạo từ xa, giáo dục trực tuyến theo các khung giờ...) để người lao động có cơ hội học tập nâng cao trình độ, tay nghề, hiểu biết cũng được xem là những việc cần làm ngay.
Kỷ nguyên mới sẽ bắt đầu bằng những hành động cụ thể vượt qua chính mình, thậm chí là bỏ lại những thành công theo cách cũ để đưa Quảng Ninh bay lên tầm cao mới. Nếu Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, từng xã, phường và mỗi người dân quyết tâm thay đổi thì “bức tranh” nguồn nhân lực số ở Quảng Ninh sẽ có sự đột phá và khởi sắc, góp phần tạo nên diện mạo mới cho vùng đất địa đầu Đông Bắc của Tổ quốc./.