Xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh tiên phong trong ứng dụng và phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh là động lực chính cho phát triển bền vững

Bùi Văn Khắng 18/12/2025 17:02

Trong bối cảnh toàn cầu đang chứng kiến những biến chuyển nhanh chóng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cùng xu hướng phát triển bền vững, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trở thành định hướng chiến lược quan trọng của nhiều quốc gia trên thế giới và trong khu vực. Tỉnh Quảng Ninh đã sớm nhận diện, “đi trước, đón đầu” và nắm bắt cơ hội từ những xu thế đó. 

Với tư duy đổi mới, tầm nhìn dài hạn và quyết tâm chính trị cao, Tỉnh Quảng Ninh đã xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt cho tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất, phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành các Nghị quyết: số 04-NQ/TU ngày 05/5/2012, số 07-NQ/TU ngày 13/3/2017, số 13-NQ/TU ngày 28/4/2023 về phát triển khoa học và công nghệ; Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 05/02/2022 về chuyển đổi số toàn diện tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành chương trình hành động số 2163/CTr-UBND ngày 09/8/2023 của UBND tỉnh về "Thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 28/4/2023 của BCH Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển khoa học, công nghệ đổi mới sáng tạo đến năm 2030”; Quyết định số 1109/QĐ-UBND ngày 02/6/2014 về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Quyết định số 1488/QĐ-UBND ngày 08/6/2022 về phê duyệt Đề án chuyển đổi số toàn diện tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. 

Triển khai thực hiện Kế hoạch hành động số 538/KH-TU ngày 19/5/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 138/KH-UBND ngày 21/5/2025 đây là những kế hoạch trọng tâm, kim chỉ nam, cụ thể hóa các chủ trương thành những nhiệm vụ thiết thực, phát huy những lợi thế sẵn có của tỉnh, gắn liền với mục tiêu đưa tỉnh Quảng Ninh trở thành một trong những địa phương đi đầu cả nước về ứng dụng và phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, hướng tới mục tiêu phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế.

Kính thưa quý vị đại biểu,

Trong giai đoạn 2021 - 2025, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Quảng Ninh ước đạt 10,4%/năm, cao gấp 1,7 lần so với bình quân cả nước, quy mô kinh tế tăng nhanh, đến hết năm 2025 ước đạt khoảng 395.000 tỷ đồng, gấp 1,9 lần so với năm 2020. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giai đoạn 2021-2025 đạt mức tăng trưởng ấn tượng 23%/năm, trở thành động lực chính của toàn tỉnh. Tỷ trọng FDI vào lĩnh vực này chiếm tới 68,5% tổng vốn thu hút, với tổng vốn đăng ký giai đoạn 2021-2025 ước đạt 9,77 tỷ USD, cao gấp 5,1 lần giai đoạn 2016-2020.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế 9 tháng năm 2025 đạt khoảng 11,67%, trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản 3,91%; khu vực công nghiệp - xây dựng 11,23%; khu vực dịch vụ 15,18%; thuế sản phẩm 5,81% cùng kỳ. Những con số này cho thấy, tỉnh Quảng Ninh đang dần chuyển dịch cơ cấu kinh tế “từ nâu sang xanh”, đang giảm dần sự phụ thuộc vào tài nguyên, đồng thời gia tăng năng suất và hiệu quả quản lý thông qua ứng dụng công nghệ.

Quảng Ninh đã thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ và tầm nhìn chiến lược rõ ràng trong việc xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những trụ cột then chốt, đóng vai trò động lực bứt phá cho sự phát triển bền vững.

Giai đoạn 2020–2025, Quảng Ninh đã chi hơn 2.300 tỷ đồng cho hoạt động khoa học và công nghệ; riêng năm 2025, tỉnh tiếp tục đầu tư khoảng 185 tỷ đồng cho đổi mới sáng tạo, thể hiện rõ cam kết ưu tiên phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, trong đó triển khai 45 nhiệm vụ trọng tâm và 14 dự án chuyển đổi số với tổng vốn hơn 125,8 tỷ đồng (ngân sách tỉnh chi khoảng 63,2 tỷ đồng). Nhiều địa phương cũng chủ động bố trí cho các hoạt động ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, khẳng định sự quan tâm đồng bộ trên địa bàn toàn tỉnh.

Hiệu quả ứng dụng khoa học – công nghệ thể hiện rõ trên nhiều lĩnh vực. Trong giai đoạn 2021–2025, tỉnh đã thực hiện hơn 100 nhiệm vụ KHCN cấp tỉnh về quản lý môi trường, bảo tồn văn hóa, nông nghiệp công nghệ cao… với hơn 90% kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào thực tiễn. Nhiều giống cây trồng mới như vải PH40, cùng công nghệ bảo tồn nguồn gen đặc hữu (rươi Đông Triều, nấm chẹo Tiên Yên) được nhân rộng. 

Trong y tế, hệ thống thiết bị hiện đại được đầu tư, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân; giáo dục thông minh được áp dụng rộng rãi, nâng cao chất lượng dạy học. Hạ tầng số đồng bộ cùng định hướng phát triển các lĩnh vực mới như kinh tế biển, năng lượng sạch, du lịch - dịch vụ, kinh tế tuần hoàn, logistics, công nghiệp chế biến, kinh tế hàng không tầng thấp đã tạo ra giá trị gia tăng và lan tỏa đổi mới trên các trụ cột kinh tế của tỉnh.

Các sản phẩm OCOP của tỉnh cũng đạt tỷ lệ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cao (63,2%) và gia tăng giá trị xuất khẩu. Trong công nghiệp, tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp luôn duy trì trên 45% từ năm 2020. Đặc biệt, 100% các dự án đầu tư đều được thẩm định chặt chẽ về công nghệ, kiên quyết không chấp thuận các dự án sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu, đối với môi trường và phát triển bền vững.

Việc ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào các khâu của hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cũng được đẩy mạnh. Tính đến tháng 9/2025, Quảng Ninh đã có 35 doanh nghiệp KHCN, nằm trong nhóm các tỉnh, thành có nhiều doanh nghiệp KHCN trong toàn quốc. Các doanh nghiệp đã chủ động tích cực đầu tư đổi mới công nghệ theo hướng tiết kiệm năng lượng, tài nguyên, bảo vệ môi trường và tăng năng suất lao động. 

Các đơn vị ngành than đã và đang từng bước làm chủ nhiều công nghệ mới, tiên tiến, tập trung đẩy mạnh ứng dụng cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hóa vào sản xuất và quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh gắn với phát triển xanh, bền vững. Đặc biệt, một số đơn vị đã chủ động thiết kế, chế tạo công nghệ, thiết bị để tránh lệ thuộc vào nước ngoài, tăng tỷ lệ nội địa hóa, giảm được 30% so với chi phí thuê ngoài, giá thành sản phẩm chỉ bằng 2/3 so với nhập khẩu. Giá trị sản phẩm công nghệ cao chiếm trên 45% tổng giá trị sản xuất công nghiệp từ năm 2020.

Tỉnh hiện có khoảng 8.000 trí thức KHCN, tương ứng 13 cán bộ nghiên cứu/vạn dân, cùng nhiều chính sách thu hút, đãi ngộ nhân lực chất lượng cao. Hạ tầng KH&CN được chú trọng đầu tư, từ hệ thống CNTT hiện đại, các phòng thí nghiệm đạt chuẩn LAS, VILAS, đến khu nông nghiệp công nghệ cao.Tỉnh Quảng Ninh đã và đang từng bước xây dựng chính quyền số gắn với nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp; thúc đẩy xã hội số toàn diện trong các lĩnh vực như giáo dục, y tế, giao thông... 

Đồng thời, từng bước đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo, khu công nghệ cao, khu công nghệ thông tin tập trung phù hợp với tiềm năng và nhu cầu phát triển thực tiễn của tỉnh. Thông qua kế hoạch hành động cụ thể, tỉnh Quảng Ninh sẽ tiếp tục thực hiện những giải pháp đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ nâu sang xanh, phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường và tăng cường quốc phòng - an ninh cũng đều được ứng dụng KHCN nhanh chóng nắm bắt xu thế mới để phát triển nhanh và bền vững…

Bên cạnh đó, Quảng Ninh cũng xác định năng lượng xanh là hướng đi chiến lược trong quá trình chuyển đổi xanh. Trong khi ngành than tiếp tục giữ vai trò trụ cột, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia với sản lượng giai đoạn 2021-2025 đạt 219 triệu tấn (tăng gần 13% so với trước), tỉnh đồng thời mở rộng mạnh sang năng lượng sạch. Theo Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, Quảng Ninh phát triển điện gió giai đoạn 2021-2040 công suất 5.000 MW, trong đó 3.000 MW ngoài khơi, 2.000 MW trên bờ, đồng thời hướng tới phát triển công nghiệp năng lượng thân thiện môi trường, ưu tiên năng lượng tái tạo, giảm dần phụ thuộc nhiên liệu hóa thạch, nâng cao tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao.

Từ năm 2016 đến 2020, đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GRDP của Quảng Ninh đạt hơn 53%, cao hơn mức trung bình của cả nước. Trong giai đoạn 2021 - 2024, tỷ lệ này tiếp tục duy trì trên 50%. Cùng với đó, du lịch - dịch vụ được tái cấu trúc theo hướng tăng trưởng xanh. Năm 2024, du lịch đóng góp 9,64% GRDP, với nhiều sản phẩm sinh thái, nghỉ dưỡng xanh tại Hạ Long, Yên Tử, Vân Đồn - Cô Tô. Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu trở thành trung tâm du lịch xanh hàng đầu, phát triển mô hình “du lịch 4 mùa”, du lịch chăm sóc sức khỏe, MICE, tâm linh và kinh tế đêm văn minh. Trong hai năm gần đây, hơn 100 sản phẩm du lịch mới ra đời gắn với trải nghiệm sinh thái – văn hóa, khẳng định thương hiệu “điểm đến xanh”.

Quảng Ninh đã đạt được những kết quả tích cực trong việc nâng cao các chỉ số: 

(1) Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII): Năm 2023 đạt 48,03 điểm, xếp hạng 09/63 tỉnh, thành phố cả nước; năm 2024 đạt 47,82 điểm, xếp hạng 06/63 tỉnh, thành phố cả nước; năm 2025 vị trí này được cải thiện lên thứ 3/34 với 58,41 điểm, khẳng định vị thế trong top 5 địa phương dẫn đầu cả nước về PII; 

(2) Đồng thời, trong nhiều năm gần đây, Tỉnh được đánh giá xếp hạng thuộc nhóm tỉnh có chỉ số cao về chỉ số chuyển đổi số (DTI) cấp tỉnh (năm 2020 đứng thứ 4 bảng xếp hàng DTI cấp tỉnh; năm 2021 đứng thứ 7 bảng xếp hạng DTI cấp tỉnh; năm 2022 đứng thứ 3 bảng xếp hạng DTI cấp tỉnh; năm 2023 đứng thứ 12 bảng xếp hạng DTI cấp tỉnh); Chỉ số sẵn sàng ứng dụng công nghệ thông tin (ICT Index) của tỉnh thuộc nhóm 3 địa phương dẫn đầu cả nước trong 4 năm liền; 

(3) Quảng Ninh cũng là địa phương duy nhất trong cả nước 7 năm liên tiếp (2017 - 2023) giữ vị trí Quán quân PCI; 05 năm liên tiếp dẫn đầu chỉ số SIPAS (2019 - 2023); 05 năm dẫn đầu chỉ số PAR Index, ngày càng định vị thương hiệu Quảng Ninh là “Điểm đến đầu tư an toàn, thuận lợi, minh bạch, hấp dẫn và thành công”; 

(4) Đạt thứ hạng cao chỉ số xanh cấp tỉnh (PGI): Hạng 4 năm 2022, Hạng 1 năm 2023 và Hạng 16 năm 2024. Quảng Ninh đã và đang vươn lên trở thành một trong những tỉnh đi đầu trong công cuộc đổi mới sáng tạo của vùng đồng bằng Bắc Bộ, một cực tăng trưởng của khu vực phía Bắc.

Kính thưa quý vị đại biểu!

Bên cạnh những thành tựu đạt được, tỉnh Quảng Ninh vẫn đối mặt với một số hạn chế và thách thức:

Về hạ tầng dữ liệu: Còn thiếu tính liên thông và đồng bộ, nhiều cơ sở dữ liệu ngành, lĩnh vực còn phân tán, chưa được tích hợp trên nền tảng dữ liệu dùng chung, khiến việc khai thác, phân tích và chia sẻ dữ liệu giữa các đơn vị, địa phương còn hạn chế. Hạ tầng công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ chính quyền điện tử được đầu tư từ những giai đoạn trước nay đã lạc hậu, nhiều thiết bị không còn phù hợp với yêu cầu công nghệ mới, đòi hỏi nguồn lực lớn để thay thế, nâng cấp.

Về cơ chế, chính sách: Quảng Ninh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, song khung chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu và đổi mới công nghệ vẫn chưa hoàn thiện. Nguồn vốn đầu tư cho KHCN và ĐMST, cả từ ngân sách nhà nước lẫn khu vực tư nhân, chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh. Khoảng cách về trình độ công nghệ giữa các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) vẫn còn khá lớn, gây khó khăn cho quá trình lan tỏa và đổi mới toàn hệ thống. Mối liên kết giữa các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp chưa chặt chẽ, dẫn đến tình trạng nhiều kết quả nghiên cứu chưa được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất.

Nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), an ninh mạng hay nghiên cứu phát triển (R&D), còn thiếu và yếu. Đội ngũ chuyên gia đầu ngành chưa nhiều, trong khi lực lượng kỹ sư, kỹ thuật viên ở cấp cơ sở, doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa đáp ứng yêu cầu triển khai ngành công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ du lịch đẳng cấp quốc tế, và chuyển đổi số - chuyển đổi xanh. Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của tỉnh chưa hoàn thiện, các thành tố như quỹ đầu tư mạo hiểm, mạng lưới cố vấn, vườn ươm khởi nghiệp, trung tâm nghiên cứu ứng dụng còn manh mún, quy mô nhỏ, thiếu kết nối. Điều này khiến việc thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu, hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo chưa đạt hiệu quả mong muốn.

Trong lĩnh vực chuyển đổi số, tuy đã đạt nhiều kết quả, nhưng vẫn còn không ít hạn chế. Theo báo cáo của Chi cục Thống kê, tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của Quảng Ninh giai đoạn 2021–2024 mới đạt 5,94%–6,96%, thấp hơn đáng kể so với trung bình cả nước (12,3%–18,3%) và còn xa mục tiêu 20% vào năm 2025. Việc ứng dụng AI, Big Data trong các cơ quan, doanh nghiệp còn ở mức thí điểm, chưa hình thành mô hình phân tích dữ liệu phục vụ ra quyết định. Một số dự án, nhiệm vụ chuyển đổi số triển khai còn chậm, thiếu tính đồng bộ giữa các cấp, ngành, dẫn đến tiến độ hoàn thành 15/22 chỉ tiêu kế hoạch chuyển đổi số năm 2025 có nguy cơ chậm so với mục tiêu.

Chất lượng nguồn nhân lực số còn là điểm nghẽn lớn. Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức am hiểu công nghệ còn hạn chế, nhất là ở cấp xã; các doanh nghiệp vừa và nhỏ thiếu nhân sự có kỹ năng số chuyên sâu. Nhiều hệ thống dữ liệu, nền tảng số và cơ sở dữ liệu chuyên ngành chưa được liên thông đồng bộ, dẫn đến việc khai thác dữ liệu còn cục bộ, thiếu tính tổng hợp, chưa phát huy hiệu quả trong cải cách hành chính và quản lý thông minh.

Bên cạnh đó, việc vận hành Quỹ phát triển KHCN và nghiên cứu thành lập Quỹ hỗ trợ ĐMST, đầu tư khởi nghiệp vẫn còn nhiều vướng mắc. Mô hình quỹ đầu tư mạo hiểm sử dụng ngân sách kết hợp xã hội hóa mới ở giai đoạn đề xuất, chưa có cơ chế rõ ràng để huy động và quản lý nguồn lực tài chính phục vụ đổi mới sáng tạo.

Công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và bảo tồn di sản vẫn còn nhiều khó khăn. Sự hình thành các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, triển khai mỏ khai thác than, khu đô thị ven biển, cùng với áp lực phát triển du lịch -đô thị hóa nhanh, đang đòi hỏi tỉnh phải triển khai mạnh mẽ hơn các giải pháp chuyển đổi xanh, quản lý tài nguyên bền vững, và áp dụng công nghệ số trong giám sát môi trường.

Kính thưa quý vị đại biểu,

Trong giai đoạn tới, Quảng Ninh xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh là trụ cột chiến lược, đóng vai trò động lực then chốt cho phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh. Tỉnh tiếp tục phát huy lợi thế địa chính trị, con người và hạ tầng hiện có, phấn đấu trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số hàng đầu khu vực phía Bắc. Theo đó, một số nhiệm vụ trọng tâm cần tiếp tục triển khai như sau:

(1) Hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù về phát triển KH&CN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số:Khẩn trương rà soát, sửa đổi và ban hành đồng bộ các quy định khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào R&D, công nghệ cao và kinh tế tuần hoàn; Tiếp tục triển khai thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu tại Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị; Nghị quyết 13-NQ/TU của BCH Đảng bộ tỉnh; Nghị quyết số 09-NQ/TU của BTV Tỉnh ủy; Kế hoạch hoạt động của 538-KH/TU của BTV Tỉnh ủy; Phát triển 1-2 khu công nghệ cao, trung tâm khởi nghiệp sáng tạo; kết nối Đại học Hạ Long và các viện nghiên cứu trong vùng…

(2) Đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện và phát triển hạ tầng số hiện đại: Hoàn thiện cơ sở dữ liệu chuyên ngành, tích hợp với Cổng Dịch vụ công quốc gia, Trung tâm dữ liệu quốc gia; Xây dựng và vận hành Trung tâm điều hành thông minh (IOC), hạ tầng 5G, IoT và điện toán đám mây phục vụ chỉ đạo điều hành và cung cấp dịch vụ công chất lượng cao; Thúc đẩy kinh tế số chiếm 30% GRDP vào năm 2030, phát triển thương mại điện tử, du lịch số, logistics thông minh và tài chính số;

(3) Thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội: Tập trung nghiên cứu, ứng dụng AI, Big Data, Blockchain, tự động hóa, vật liệu mới và năng lượng tái tạo trong sản xuất công nghiệp, du lịch, nông nghiệp công nghệ cao.Phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo gắn với các doanh nghiệp FDI, viện, trường.Hỗ trợ vốn mồi, kết nối đầu tư mạo hiểm, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu.Phấn đấu đến năm 2030, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%;

(4) Tích cực, chủ động chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn và năng lượng sạch: Cơ cấu lại công nghiệp theo hướng hiện đại, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp mới nổi, công nghiệp chế biến, chế tạo xanh, sạch, công nghệ cao, năng lượng tái tạo, năng lượng mới.Đẩy nhanh quá trình chuyển đổi năng lượng từ than sang điện gió, điện mặt trời, LNG và hydro xanh; phát triển các khu công nghiệp sinh thái tại Quảng Yên, Đông Triều, Hải Hà; Tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và đầu tư công nghệ xanh, kinh tế biển bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học vịnh Hạ Long - Bái Tử Long và Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc

(5) Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và văn hóa đổi mới sáng tạo: Xây dựng Quảng Ninh trở thành “tỉnh học tập thông minh”, đẩy mạnh đào tạo kỹ năng số, tư duy đổi mới sáng tạo trong giáo dục phổ thông và đại học.Liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp – nhà trường – viện nghiên cứu; phát triển đội ngũ chuyên gia KH&CN, chuyên viên phân tích dữ liệu, kỹ sư phần mềm, nhà quản trị chuyển đổi xanh.Tôn vinh các mô hình sáng tạo cộng đồng, phong trào thanh niên khởi nghiệp, thúc đẩy văn hóa đổi mới, sáng tạo và thích ứng số trong toàn xã hội.

Kính thưa các quý vị đại biểu,

Xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh tiên phong trong ứng dụng và phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh không chỉ là mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, mà còn là tầm nhìn chiến lược nhằm kiến tạo, xác lập mô hình phát triển mới, bền vững trong bối cảnh mới.

Những thành tựu nổi bật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong thời gian qua là minh chứng rõ nét cho năng lực thích ứng và đổi mới mạnh mẽ của tỉnh. Việc triển khai đồng bộ các nghị quyết, chương trình hành động của Trung ương và địa phương đã giúp Quảng Ninh từng bước hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo toàn diện – nơi khoa học, công nghệ, con người và doanh nghiệp cùng phát triển hài hòa.

Trong thời gian tới, tỉnh cần tiếp tục kiên định con đường chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, lấy con người làm trung tâm, doanh nghiệp làm chủ thể, công nghệ làm nền tảng và dữ liệu làm tài nguyên mới. Đồng thời, đẩy mạnh liên kết vùng, hợp tác quốc tế, thu hút nhân tài, lan tỏa giá trị đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội. Với quyết tâm chính trị cao, tầm nhìn dài hạn và phương thức lãnh đạo năng động, Quảng Ninh hoàn toàn có đủ tiềm lực để trở thành hình mẫu về phát triển bền vững dựa trên khoa học – công nghệ – đổi mới sáng tạo – chuyển đổi số – chuyển đổi xanh, đóng góp xứng đáng vào sự thịnh vượng chung của đất nước./.

Bùi Văn Khắng