Xây dựng đô thị thông minh gắn với chuyển đổi xanh và phát triển bền vững ở Quảng Ninh, từ thực tiễn địa phương đến định hướng quốc gia

Phạm Ngọc Huệ 18/12/2025 17:01

1. Mở đầu

Trong bối cảnh toàn cầu, quá trình đô thị hóa nhanh, tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và áp lực phát triển bền vững đã đặt ra cho nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam một bài toán “kép”: vừa cần tăng trưởng kinh tế, vừa phải bảo đảm môi trường và đời sống xã hội. Trong đó, khái niệm đô thị thông minh - hiểu là đô thị vận hành trên nền tảng số hóa, dữ liệu, công nghệ và quản trị hiện đại và chuyển đổi xanh - hướng tới nền kinh tế tiết kiệm tài nguyên, tuần hoàn, ít phát thải - đã trở thành trụ cột chiến lược.

Việt Nam đã sớm xác định đô thị thông minh là một trong ba trụ cột của chiến lược phát triển đô thị quốc gia trong Quyết định số 950/QĐ-TTg, ngày 1-8-2018, của Thủ tướng Chính phủ, Phê duyệt Đề án phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam giai đoạn 2018 - 2025 và định hướng đến năm 2030 và tiếp tục được nhấn mạnh trong các văn bản khác([1])

Việc kết hợp giữa đô thị thông minh và chuyển đổi xanh không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường mà còn mở ra cơ hội để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị quốc tế, phát triển kinh tế số và tạo lập mô hình đô thị bền vững.

Tại địa phương, tỉnh Quảng Ninh là một trường hợp điển hình cho việc chuyển đổi mô hình phát triển: từ mạnh mẽ dựa vào tài nguyên khoáng sản sang hướng dịch vụ - công nghiệp chế biến - du lịch và đô thị hiện đại. Tỉnh đã chủ động xác định phát triển bền vững, đô thị xanh - thông minh là hướng đi trọng tâm. Trong Quy hoạch vùng đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050, tỉnh Quảng Ninh đã đặt mục tiêu trở thành “vùng đô thị phát triển bền vững, đô thị xanh, đô thị sinh thái phong phú và thân thiện với môi trường” và là “cực tăng trưởng của khu vực phía Bắc”([2])

Đồng thời, tỉnh Quảng Ninh đã xây dựng chiến lược tăng trưởng xanh cụ thể, dựa trên ba trụ cột “thiên nhiên - con người - văn hóa”, đồng bộ với xu thế toàn cầu. Tỉnh cũng đã đề xuất các mô hình đô thị thông minh, tích hợp hạ tầng số, dữ liệu dùng chung và phát triển đô thị ven biển, đảo là động lực tăng trưởng.

Việc xây dựng đô thị thông minh ở tỉnh Quảng Ninh không chỉ là việc triển khai các giải pháp công nghệ như camera giao thông, hạ tầng dữ liệu dùng chung, ứng dụng tương tác với người dân mà còn là quá trình gắn chặt với chuyển đổi xanh: từ quy hoạch đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên - môi trường bền vững, năng lượng tái tạo, đến phát triển kinh tế tuần hoàn. 

Sau sáp nhập, phường Đông Triều không chỉ hướng đến mục tiêu trở thành một đô thị hiện đại, mà còn đặt ra khát vọng trở thành đô thị sinh thái kiểu mẫu - nơi con người sống hài hòa với thiên nhiên, môi trường được bảo vệ, văn hóa được gìn giữ và phát triển bền vững([3]).

Như vậy, tỉnh Quảng Ninh đang ở giao điểm giữa hai trục chiến lược: (i) đô thị thông minh như công cụ quản trị và phát triển đô thị hiệu quả hơn; (ii) chuyển đổi xanh như kim chỉ nam cho mô hình tăng trưởng bền vững. Việc kết hợp này tạo nên lợi thế cạnh tranh mới cho tỉnh - một mô hình có thể nhân rộng cho nhiều địa phương khác tại Việt Nam.

2. Thực trạng và xu hướng chuyển đổi đô thị thông minh gắn với chuyển đổi xanh tại tỉnh Quảng Ninh

2.1. Thực trạng chuyển đổi đô thị thông minh gắn với chuyển đổi xanh

Từ đầu thập niên 2010, tỉnh Quảng Ninh đã chuyển thông điệp phát triển từ “tăng trưởng dựa vào tài nguyên than, đất, khoáng sản” sang “tăng trưởng xanh, bền vững, dựa vào dịch vụ - công nghiệp chế biến - kinh tế biển”. 

Sự chuyển hướng này được thể chế hóa dần trong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và được kết tinh rõ nhất trong Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 80/QĐ-TTg, ngày 11-2-2023: tỉnh tự xác định mục tiêu trở thành “tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, một trung tâm du lịch quốc tế, đầu tàu tăng trưởng phía Bắc, phát triển xanh, bền vững và toàn diện”.

Về đô thị hóa: Đến cuối năm 2023, tỉnh Quảng Ninh có 13 đô thị và được xếp trong nhóm 5 địa phương có tỷ lệ đô thị hóa cao nhất cả nước. Theo công bố: tỷ lệ đô thị hóa đạt 68,5%, cao gấp đôi mức bình quân cả nước (40,5%)([4])

Đây là nền tảng quan trọng để tỉnh chuyển sang giai đoạn “đô thị thông minh - đô thị xanh”, bởi mật độ đô thị, hạ tầng và dịch vụ đã đủ dày để số hóa và quản trị bằng dữ liệu.

Về hạ tầng đô thị và kết nối vùng: Trong giai đoạn bứt phá 2016 - 2020, tỉnh Quảng Ninh chủ động dành tỷ trọng rất cao cho đầu tư công của cấp tỉnh (trên 55% tổng chi ngân sách tỉnh) để làm kết cấu hạ tầng chiến lược: cao tốc Hạ Long - Hải Phòng, Hạ Long - Vân Đồn, sân bay Vân Đồn, cảng biển, đường bao biển Hạ Long - Cẩm Phả…; tổng vốn huy động đầu tư cho kết cấu hạ tầng lên đến hơn 123.000 tỷ đồng như tỉnh công bố([5])

Với kết cấu hạ tầng này, vừa mở không gian phát triển đô thị ven biển, vừa giúp kết nối các trung tâm đô thị mới (Hạ Long, Cẩm Phả, Quảng Yên, Móng Cái) thành một chuỗi đô thị - công nghiệp - dịch vụ ven vịnh, đủ điều kiện để triển khai các ứng dụng đô thị thông minh (giám sát giao thông, môi trường, du lịch thông minh).

Về khung chính sách xanh: Sau khi Quyết định số 882/QĐ-TTg, 22-7-2022, của Thủ tướng Chính phủ, về “Phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030” ban hành, tỉnh Quảng Ninh là một trong những địa phương sớm cụ thể hóa: ngày 6-5-2024, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 1318/QĐ-UBND, phê duyệt Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2023 - 2030; trong đó có 18 chủ đề, 62 nhóm nhiệm vụ và 35 nhiệm vụ cụ thể, từ giảm phát thải, thích ứng biến đổi khí hậu, kinh tế tuần hoàn, đến phát triển đô thị xanh và nâng chất lượng môi trường sống đô thị.

Điểm đáng chú ý là trong Quy hoạch tỉnh 2021 - 2030, tỉnh Quảng Ninh không coi “đô thị thông minh” là một dự án công nghệ riêng lẻ mà gắn nó với trục phát triển xanh: đô thị phải “thích ứng biến đổi khí hậu, bảo vệ vịnh Hạ Long, bảo vệ rừng, phát triển kinh tế biển bền vững”; đồng thời, “ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, chuyển đổi số vào quản lý đô thị”. 

Tức là đô thị thông minh ở Quảng Ninh được định nghĩa là đô thị số (ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo) + đô thị xanh (sử dụng tài nguyên hiệu quả, bảo vệ môi trường) + đô thị thích ứng khí hậu (nâng cao khả năng chống chịu với thiên tai và biến đổi khí hậu), chứ không phải chỉ lắp cảm biến và trung tâm điều hành.

Về hướng phát triển đô thị thông minh: Trên cơ sở tỷ lệ đô thị hóa rất cao và kết cấu hạ tầng đã đi trước, tỉnh Quảng Ninh đặt mục tiêu đến năm 2025 hình thành trước một số đô thị thông minh trọng điểm (Hạ Long, Móng Cái, Quảng Yên, Uông Bí) và đến năm 2030, cơ bản các đô thị đạt tiêu chí đô thị thông minh, đồng bộ với kiến trúc chính quyền điện tử - chính quyền số mà tỉnh đang triển khai. Mục tiêu này được lồng trong quy hoạch tỉnh 2021 - 2030 và các chương trình xây dựng chính quyền số, đô thị thông minh của tỉnh.

Mặc dù tỉnh Quảng Ninh được xem là địa phương đi đầu về mô hình “chuyển đổi xanh gắn với đô thị thông minh”, song thực tiễn, vẫn còn một số thách thức lớn cần được nhìn nhận thẳng thắn:

Một là, quá trình chuyển dịch cơ cấu “từ nâu sang xanh” tuy rõ về định hướng, nhưng vẫn chưa thật cân đối giữa các ngành. Nguồn thu từ công nghiệp khai khoáng và năng lượng truyền thống vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể trong ngân sách tỉnh, trong khi đóng góp của khu vực kinh tế xanh (dịch vụ, năng lượng tái tạo, công nghiệp sạch) mới ở giai đoạn khởi đầu. Một số dự án “chuyển đổi năng lượng” như Dự án Nhà máy điện khí LNG Quảng Ninh hay khu công nghiệp sinh thái còn trong quá trình chuẩn bị đầu tư.

Hai là, hạ tầng số và dữ liệu đô thị dù được chú trọng đầu tư nhưng chưa liên thông hoàn toàn giữa các sở, ngành và địa phương. Trung tâm điều hành thông minh (IOC) của tỉnh và các đô thị đã vận hành, song dữ liệu môi trường, giao thông, du lịch vẫn ở mức “từng mảng riêng biệt”. Việc chuẩn hóa, chia sẻ dữ liệu (API, GIS, nền tảng đô thị số thống nhất) là yêu cầu cấp thiết để bảo đảm quản trị đô thị thực sự “thông minh và xanh”.

Ba là, tài chính xanh và vốn dài hạn cho các dự án đô thị - môi trường còn hạn chế. Nhiều dự án xử lý nước thải, chất thải rắn, chiếu sáng thông minh hay năng lượng tái tạo vẫn phụ thuộc vào nguồn ngân sách nhà nước hoặc vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), trong khi khu vực tư nhân chưa được khuyến khích đủ mạnh để đầu tư theo mô hình PPP xanh.

Bốn là, áp lực môi trường tại các đô thị ven biển và khu di sản vẫn lớn. Khu vực vịnh Hạ Long, Cẩm Phả, Quảng Yên đối mặt nguy cơ nước biển dâng, ô nhiễm ven bờ và rác thải du lịch tăng nhanh. Nếu không kiểm soát tốt thì việc phát triển đô thị và du lịch có thể tạo ra tác động ngược, làm suy giảm giá trị môi trường - yếu tố then chốt của chiến lược “xanh hóa” tỉnh Quảng Ninh.

Nhìn tổng thể, tỉnh Quảng Ninh đã đạt bước tiến lớn trong việc thay đổi mô hình phát triển, hình thành cấu trúc kinh tế - đô thị mới nhưng vẫn cần hoàn thiện ba “trụ đỡ thể chế”: (1) chuẩn hóa khung quản trị và dữ liệu đô thị; (2) mở rộng cơ chế tài chính xanh, huy động khu vực tư nhân; (3) bảo đảm công bằng trong chuyển dịch việc làm từ các ngành “nâu” sang ngành “xanh”. Đây sẽ là điều kiện tiên quyết để tỉnh tiếp tục giữ vai trò “phòng thí nghiệm chính sách đô thị - xanh” của Việt Nam trong giai đoạn 2025 - 2035.

2.2. Xu hướng phát triển đô thị thông minh gắn với chuyển đổi xanh trong những năm tới

Xu hướng rõ nét ở tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2025 - 2035 là kết hợp phát triển đô thị thông minh với tăng trưởng xanh, coi đây là hai trụ cột song hành để xây dựng “tỉnh công nghiệp - dịch vụ hiện đại, trung tâm kinh tế biển phía Bắc” theo Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Thứ nhất, hướng tới xây dựng nền tảng số cho quản trị đô thị và chuyển đổi xanh.

Tỉnh đang đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng số dùng chung, bao gồm trung tâm dữ liệu, mạng IoT, hệ thống điều hành giao thông - môi trường - chiếu sáng thông minh và trung tâm giám sát điều hành đô thị (IOC) cấp tỉnh. Hệ thống này được thiết kế để kết nối toàn bộ các sở, ngành, đô thị cấp huyện, tiến tới hình thành “chính quyền dữ liệu” phục vụ ra quyết định nhanh, minh bạch và thân thiện với người dân. 

Đặc biệt, ứng dụng “Hạ Long Smart” đã trở thành cầu nối giữa chính quyền và người dân, cho phép phản ánh hiện trường, tra cứu dịch vụ công, theo dõi tình trạng xử lý phản ánh đô thị, góp phần hình thành mô hình đô thị số gần dân, lấy người dân làm trung tâm.

Thứ hai, phát triển mô hình đô thị biển - ven biển thông minh, sinh thái.

Với lợi thế đặc thù ven vịnh Bắc Bộ và sở hữu hàng trăm ki-lô-mét bờ biển, tỉnh Quảng Ninh đang quy hoạch chuỗi đô thị - công nghiệp - cảng biển sinh thái gắn với các khu vực Vân Đồn, Móng Cái, Quảng Yên. 

Các dự án lớn, như Khu kinh tế Vân Đồn, Khu đô thị phức hợp Bãi Dài, Khu công nghiệp - cảng biển Quảng Yên đều được định hướng phát triển theo tiêu chí xanh, logistics hiện đại, hạ tầng tuần hoàn, sử dụng công nghệ quản lý năng lượng và tài nguyên hiệu quả.

Thứ ba, phát triển kinh tế tuần hoàn và khu công nghiệp sinh thái.

Các khu kinh tế ven biển được quy hoạch theo hướng giảm phát thải và tận dụng tài nguyên tái chế, như tái sử dụng đất đá thải mỏ trong san lấp, sản xuất vật liệu xây dựng xanh, năng lượng mặt trời áp mái, điện rác. 

Tỉnh Quảng Ninh đặt mục tiêu đến năm 2030, toàn bộ khu công nghiệp, khu kinh tế đạt tiêu chuẩn xanh theo tiêu chuẩn ESG (môi trường - xã hội - quản trị), đây là xu thế tất yếu. 

Cùng với đó, tỉnh triển khai các chương trình tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn theo Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh 2023 - 2030 (Quyết định số 1318/QĐ-UBND) gồm 18 chủ đề, 62 nhóm nhiệm vụ, 35 nhiệm vụ cụ thể hướng tới nền kinh tế các-bon thấp, giảm phát thải, nâng cao năng suất sử dụng năng lượng và tài nguyên.

Thứ tư, tăng cường liên kết vùng và mở rộng không gian đô thị.

Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, trong Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, mở rộng thành phố Hạ Long, Quảng Ninh đang hình thành chuỗi đô thị - công nghiệp - dịch vụ dọc tuyến cao tốc Hạ Long - Móng Cái - Hải Phòng. Đây là hành lang phát triển mới, giúp tỉnh tăng cường kết nối vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và thúc đẩy đô thị hóa gắn với hạ tầng xanh, giao thông công cộng, công trình tiết kiệm năng lượng. 

Xu hướng phát triển đô thị - xanh của Quảng Ninh trong thập niên tới thể hiện rõ ở việc kết hợp chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, lấy dữ liệu - công nghệ - môi trường làm nền tảng; từ đó, hình thành mô hình đô thị thông minh - sinh thái, vừa nâng cao chất lượng sống của người dân, vừa bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững và cam kết Net-Zero 2050 của Việt Nam.

Như vậy, tỉnh Quảng Ninh đã và đang chuyển mình mạnh mẽ: từ địa phương dựa nhiều vào khai khoáng và tài nguyên sang mô hình đô thị - công nghiệp - dịch vụ hiện đại, gắn với chuyển đổi xanh, đô thị thông minh và tăng trưởng bền vững. 

Xu hướng này không chỉ là điều kiện cần để tỉnh giữ “cực tăng trưởng phía Bắc” mà còn là mô hình mẫu để các tỉnh, thành phố khác học hỏi. Tuy nhiên, để hoàn thiện chuyển đổi này một cách đồng bộ và hiệu quả, vẫn cần giải quyết các “nút thắt” về liên thông dữ liệu, hạ tầng số, quản lý môi trường và tài chính xanh.

3. Định hướng quốc gia và đóng góp từ mô hình tỉnh Quảng Ninh

3.1. Từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh đến định hướng chính sách chung

Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Ninh cho thấy, đô thị thông minh và chuyển đổi xanh chỉ thực sự bền vững khi được đặt trong một “hệ sinh thái thể chế - dữ liệu - tài chính” thống nhất. Thành công bước đầu của địa phương này không chỉ đến từ tư duy đổi mới, hạ tầng công nghệ mà còn nhờ sự đồng bộ trong quy hoạch, cải cách hành chính và huy động nguồn lực xã hội.

Đây chính là mô hình “đổi mới từ địa phương”, cung cấp nhiều gợi mở cho chiến lược quốc gia về phát triển đô thị bền vững giai đoạn 2025 - 2050, phù hợp với các định hướng lớn đã được nêu trong Nghị quyết số 06-NQ/TW, Quyết định số 1658/QĐ-TTg, Quyết định số 896/QĐ-TTg đã đề cập phía trên và Quyết định số 950/QĐ-TTg, ngày 1-8-2018, của Thủ tướng Chính phủ, về “Phê duyệt Đề án phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam giai đoạn 2018 - 2025 và định hướng đến năm 2030”.

Từ thực tế đó, có thể hình thành một số định hướng chính sách lớn nhằm nhân rộng mô hình Quảng Ninh trên phạm vi toàn quốc.

3.2. Một số định hướng chính sách quốc gia

Thứ nhất, hoàn thiện bộ tiêu chí quốc gia “đô thị thông minh - xanh - bền vững”.

Hiện nay, tiêu chí về “đô thị xanh” và “đô thị thông minh” vẫn chưa có sự thống nhất giữa các bộ liên quan, cần ban hành một bộ tiêu chí thống nhất ở cấp quốc gia, kết hợp quản trị dữ liệu - an toàn thông tin, năng lượng các-bon thấp, quản lý nước và chất thải tuần hoàn, đa dạng sinh học đô thị, công bằng xã hội và mức độ hài lòng của người dân - doanh nghiệp. 

Mỗi cấp đô thị (loại I, II, III) có ngưỡng riêng nhưng phải nằm trong khung tham chiếu thống nhất để bảo đảm khả năng giám sát và so sánh vùng, miền. Bộ tiêu chí này nên giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp cùng Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng trong giai đoạn 2025 - 2026.

Thứ hai, xây dựng kiến trúc dữ liệu đô thị quốc gia và hạ tầng liên thông vùng.

Trên cơ sở kinh nghiệm của tỉnh Quảng Ninh về Trung tâm giám sát, điều hành thông minh (IOC) và Kho dữ liệu dùng chung, Nhà nước cần hình thành “Kiến trúc dữ liệu đô thị quốc gia (UDI)”, bao gồm chuẩn dữ liệu không gian (GIS), API mở, hệ thống định danh - phân quyền truy cập và kho dữ liệu AI dùng chung. 

Hạ tầng này sẽ giúp kết nối các đô thị thông minh địa phương với hệ thống Chính phủ dữ liệu quốc gia, tạo cơ chế chia sẻ, học hỏi, đồng bộ giữa các tỉnh. Mô hình UDI nếu được triển khai sớm sẽ là “xương sống dữ liệu” cho quá trình chuyển đổi số - xanh.

Thứ ba, phát triển tài chính xanh và huy động nguồn lực xã hội.

Cần hoàn thiện hành lang pháp lý để phát hành trái phiếu xanh cấp địa phương, đồng thời có ưu đãi thuế, tín dụng cho các dự án hạ tầng xanh - thông minh (như chiếu sáng LED, giao thông điện, xử lý nước - rác tuần hoàn, năng lượng tái tạo đô thị). 

Khuyến khích mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong phát triển hạ tầng số - xanh, kết hợp quỹ khí hậu quốc tế và nguồn ODA xanh để giảm gánh nặng tài chính công. Với tỉnh Quảng Ninh, có thể thí điểm PPP trong điện rác với quan trắc môi trường, chiếu sáng LED với pin mặt trời mái, cảng điện với hệ thống vé tích hợp.

Thứ tư, quy hoạch tích hợp “thông minh với xanh và chống chịu khí hậu”.

Các đô thị ven biển, đặc biệt là khu vực Hạ Long - Cẩm Phả - Quảng Yên, phải được quy hoạch theo hướng đô thị nén (TOD), hạn chế san nền cao, đưa tiêu chuẩn cao độ phòng ngập, phát triển công trình xanh, mái xanh, thảm thực vật thấm nước. 

Quy hoạch tích hợp cần lồng ghép yếu tố điện năng lượng tái tạo, thoát nước thông minh, không gian xanh công cộng, gắn liền mục tiêu Net-Zero 2050. Bộ Xây dựng nên phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoàn thiện hướng dẫn kỹ thuật này trước năm 2027.

Thứ năm, bảo đảm chuyển dịch công bằng và phát triển nguồn nhân lực.

Việc chuyển dịch từ “nâu sang xanh” không thể chỉ dừng ở hạ tầng mà phải đi kèm chính sách đào tạo lại lao động ngành than - khoáng sản, hỗ trợ việc làm mới trong các lĩnh vực công nghệ cao, logistics xanh, du lịch bền vững. 

Cần thiết lập Quỹ chuyển dịch việc làm xanh, hỗ trợ nhà ở công nhân “xanh”; đồng thời, mở rộng chương trình đào tạo nguồn nhân lực công nghệ số và quản lý đô thị thông minh ở các trường nghề, đại học vùng.

3.3. Lộ trình và giám sát hiệu quả

Năm 2025: Hoàn thiện bộ tiêu chí đô thị thông minh - xanh, thiết lập khung kiến trúc dữ liệu đô thị quốc gia, thí điểm mô hình PPP cho hạ tầng xanh tại các đô thị trọng điểm, như Quảng Ninh, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh.

Giai đoạn 2026 - 2030: Nhân rộng mô hình “đô thị thông minh - xanh” ra các tỉnh, hình thành mạng lưới đô thị vùng; đánh giá kết quả giảm phát thải, mở rộng kinh tế số - xanh.

Giai đoạn 2030 - 2045: Hướng tới chuỗi đô thị động lực quốc gia phát triển bền vững cao, tích hợp mục tiêu Net-Zero, bảo đảm công bằng xã hội và thích ứng khí hậu.

Việc giám sát thực hiện này cần dựa trên hệ thống các chỉ số, như chỉ số PCI/PGI (năng lực cạnh tranh và quản trị đô thị); chỉ số đô thị thông minh (smart city index); chỉ số giảm phát thải và hiệu quả sử dụng năng lượng theo ngành; chỉ số hài lòng của người dân - doanh nghiệp và mức độ công khai dữ liệu.

4. Kết luận

Tỉnh Quảng Ninh là minh chứng sinh động cho một địa phương biến thách thức chuyển đổi xanh thành cơ hội phát triển. Từ nền tảng kinh tế khai khoáng, tỉnh đã từng bước chuyển mình thành trung tâm dịch vụ - công nghiệp - du lịch xanh, tiên phong trong mô hình đô thị thông minh gắn với phát triển bền vững.

Tuy nhiên, để mô hình này lan tỏa toàn quốc, Việt Nam cần sớm hình thành bộ tiêu chí đô thị xanh - thông minh, nền tảng dữ liệu liên thông, cơ chế tài chính xanh bền vững, cùng lộ trình chuyển dịch công bằng cho người lao động. Nếu khơi thông được những “nút thắt” này, đô thị thông minh gắn với chuyển đổi xanh sẽ góp phần quan trọng vào quá trình phát triển đô thị bền vững của Việt Nam trong thế kỷ XXI./.



([1]) Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 24-1-2022, của Bộ Chính trị, “Về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; Quyết định số 1658/QĐ-TTg, ngày 1-10-2022, của Thủ tướng Chính phủ, về “Phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050”; Quyết định số 896/QĐ-TTg, ngày 26-7-2022, của Thủ tướng Chính phủ, về “Phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050”

([2]) Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định mục tiêu đến năm 2030, tỉnh Quảng Ninh trở thành một tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, trung tâm du lịch quốc tế, là một trong những đầu tầu kinh tế của miền Bắc và cả nước với hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, hạ tầng kỹ thuật đô thị đồng bộ, hiện đại; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, bảo đảm môi trường bền vững; tầm nhìn đến năm 2050, trở thành vùng đô thị phát triển bền vững, đáp ứng các tiêu chí của đô thị loại I, thành phố trực thuộc Trung ương với các đặc trưng: Là vùng đô thị phát triển hiện đại, bền vững, văn minh và có bản sắc; vùng đô thị xanh, đô thị sinh thái phong phú và thân thiện với môi trường; an toàn và ứng phó hiệu quả với thiên tai và các tác động của biến đổi khí hậu; là vùng đô thị cơ sở kinh tế vững chắc, có sức cạnh tranh cao, bảo đảm tốt an sinh và chất lượng cuộc sống; phát triển gắn kết giữa đô thị và nông thôn, bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa các khu vực

([3]) Nguyễn Thanh: Phường Đông Triều: Bứt phá thành đô thị sinh thái kiểu mẫu, Báo Quảng Ninh điện tử, https://baoquangninh.vn/phuong-dong-trieu-but-pha-thanh-do-thi-sinh-thai-kieu-mau-3364062.html#:~:te..., ngày 26-6-2025

([4]) 68,5% - là tỷ lệ đô thị hóa của Quảng Ninh hiện nay, Báo Quảng Ninh điện tử, https://baoquangninh.vn/68-5-la-ty-le-do-thi-hoa-cua-quang-ninh-hien-nay-3263700.html?utm_source, ngày 10-10-2023

([5]) Quang Thọ: Quy hoạch Quảng Ninh trở thành động lực phát triển kinh tế của cả nước, Báo Nhân Dân, https://nhandan.vn/quy-hoach-quang-ninh-tro-thanh-dong-luc-phat-trien-kinh-te-cua-ca-nuoc-post657920.html, ngày 2-8-2021

Phạm Ngọc Huệ