Tư duy hệ thống và đổi mới sáng tạo trong quản trị cấp tỉnh: Cơ sở lý luận và định hướng áp dụng quản trị theo mô hình đô thị thông minh, bền vững tại tỉnh Quảng Ninh

GS. TSKH. Nguyễn Đình Đức 18/12/2025 17:01

Mở đầu

Trong bối cảnh thế giới đang chuyển mình mạnh mẽ dưới tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế số, xã hội tri thức cùng với trí tuệ nhân tạo (AI) và chuyển đổi xanh, các mô hình quản trị truyền thống dần bộc lộ nhiều hạn chế. 

Quản trị ngày nay không chỉ là điều hành hành chính mà đòi hỏi năng lực tư duy hệ thống với các công nghệ số - nhìn nhận vấn đề một cách tổng thể, linh hoạt, thông minh và sáng tạo. Tư duy này, kết hợp với đổi mới sáng tạo, đang trở thành nền tảng của năng lực quản trị hiện đại, quyết định hiệu quả phát triển bền vững ở mọi cấp độ.

Tại Việt Nam, tiến trình đổi mới và hội nhập sâu rộng gần bốn thập niên qua đã đem lại nhiều thành tựu về kinh tế - xã hội, song cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tái cấu trúc mô hình quản trị, đặc biệt ở cấp tỉnh. 

Các thách thức, như biến đổi khí hậu, đô thị hóa nhanh, chuyển đổi số và bất bình đẳng số buộc chính quyền địa phương phải chuyển từ tư duy quản lý tuyến tính sang tư duy hệ thống - coi mỗi lĩnh vực là một phần trong mạng lưới phức hợp có mối liên hệ chặt chẽ.

Tư duy hệ thống giúp nhà quản trị nhìn thấy bức tranh tổng thể, phát hiện mối liên kết giữa kinh tế, xã hội, môi trường, khoa học, công nghệ và con người. 

Đổi mới sáng tạo cung cấp công cụ và động lực để tạo ra mô hình, quy trình và sản phẩm mới, giải pháp mới, giúp chính quyền nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượng phục vụ người dân. Khi kết hợp, hai yếu tố này hình thành nền tảng của mô hình quản trị thích ứng, thúc đẩy nền kinh tế số, hướng tới phát triển bền vững.

Trong bức tranh đó, Quảng Ninh nổi bật như một địa phương tiên phong trong đổi mới mô hình phát triển và quản trị. Với tầm nhìn chiến lược, sự đồng thuận xã hội và quyết tâm chính trị cao, tỉnh đã nhiều năm dẫn đầu cả nước về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số cải cách hành chính (PAR Index), chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) và chỉ số chuyển đổi số cấp tỉnh (DTI), khẳng định vị thế là “tỉnh kiểu mẫu về đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững”.

Tuy nhiên, bước vào giai đoạn 2025 - 2030, hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và hạt nhân phát triển vùng Đông Bắc, tỉnh Quảng Ninh cần tiếp tục đổi mới mô hình quản trị trên nền tảng tư duy hệ thống kết hợp đổi mới sáng tạo. Đây không chỉ là yêu cầu lý luận mà còn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, giúp nâng cao chất lượng hoạch định chính sách, phối hợp liên ngành và tối ưu hóa nguồn lực phát triển cho địa phương.

Bài tham luận này nhằm làm rõ cơ sở lý luận của tư duy hệ thống và đổi mới sáng tạo trong quản trị cấp tỉnh, phân tích mối quan hệ giữa hai khái niệm, đồng thời đề xuất định hướng vận dụng thông qua mô hình quản trị đô thị thông minh thí điểm tại Quảng Ninh giai đoạn 2025 - 2030, tầm nhìn 2045. 

Qua đó, góp phần xây dựng mô hình quản trị công hiện đại, linh hoạt và hướng tới con người - nơi tỉnh Quảng Ninh không chỉ là địa phương triển thực hiện khai tốt, mà còn tiên phong trong đổi mới tư duy quản trị trong kỷ nguyên mới ở Việt Nam.

Cơ sở lý luận về tư duy hệ thống và đổi mới sáng tạo trong quản trị công

Khái niệm và bản chất của tư duy hệ thống

Tư duy hệ thống là cách tiếp cận nhận thức và giải quyết vấn đề dựa trên việc xem xét tổng thể các yếu tố, mối quan hệ và sự tương tác qua lại giữa chúng, thay vì chỉ tập trung vào từng phần riêng lẻ. 

Theo Peter M. Senge, tư duy hệ thống là “kỷ luật thứ năm” trong tổ chức học hỏi, cho phép con người nhìn thấy các mẫu, xu hướng và cấu trúc sâu xa ẩn dưới những hiện tượng bề mặt. Thay vì hỏi “vấn đề nằm ở đâu?”, tư duy hệ thống đặt câu hỏi “hệ thống nào tạo ra vấn đề đó?” - nghĩa là đi tìm nguyên nhân gốc rễ trong chính mối tương tác của các thành phần.

Trong lĩnh vực quản trị công, tư duy hệ thống được hiểu là khả năng của nhà quản lý trong việc: Nhìn nhận và phân tích mối quan hệ liên ngành, liên vùng, liên cấp trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách; nhận diện chuỗi nguyên nhân - kết quả thay vì xử lý hiện tượng tức thời; tạo lập các cơ chế phản hồi giúp hệ thống tự học hỏi và điều chỉnh; coi chính quyền, doanh nghiệp, người dân và môi trường là những yếu tố then chốt tương tác trong một hệ sinh thái phát triển.

Điểm cốt lõi của tư duy hệ thống là nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện và linh hoạt, trong đó mọi quyết định quản trị được xem xét trên nền tảng tác động qua lại lâu dài giữa các yếu tố. 

Ở cấp tỉnh, điều này đòi hỏi mỗi chính sách, ví dụ, như phát triển công nghiệp, phải đồng thời tính đến ảnh hưởng đến môi trường, việc làm, giao thông, y tế và hạ tầng đô thị, nhằm tránh rủi ro cục bộ hay xung đột lợi ích giữa các ngành. 

Đồng thời, tư duy hệ thống còn gắn liền với mô hình “tổ chức học hỏi”, nơi chính quyền thường xuyên tiếp nhận phản ánh từ người dân và các thành phần kinh tế xã hội, rút kinh nghiệm từ thực tiễn và điều chỉnh chiến lược dựa trên dữ liệu - cách làm đang được các quốc gia tiên tiến, như Singapore, Phần Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản áp dụng rất hiệu quả.

Khái niệm và đặc trưng của đổi mới sáng tạo trong quản trị công

Đổi mới sáng tạo trong khu vực công hiện nay được hiểu là quá trình tạo ra và áp dụng các ý tưởng mới, quy trình mới, dịch vụ mới hoặc mô hình quản trị mới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, tăng chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp, phát triển kinh tế số, cũng như thúc đẩy phát triển bền vững.

Theo OECD, đổi mới công có thể chia thành bốn nhóm chủ yếu: 

1- Đổi mới thể chế và chính sách: xây dựng các khung pháp lý linh hoạt, khuyến khích sáng kiến từ cơ sở; 

2- Đổi mới quy trình và mô hình quản trị: tái cấu trúc quy trình làm việc, ứng dụng công nghệ số để tinh gọn thủ tục hành chính; 

3- Đổi mới công nghệ trong khu vực công: sử dụng dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI) và hệ thống quản lý thông minh để hỗ trợ ra quyết định; 

4- Đổi mới xã hội: khuyến khích người dân, doanh nghiệp và tổ chức xã hội tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề công.

Khác với khu vực tư nhân, nơi đổi mới sáng tạo thường gắn với lợi nhuận và thị phần, đổi mới trong khu vực công hướng tới giá trị công - tức là tạo ra tác động tích cực và kiến tạo cho cộng đồng và nâng cao năng lực của chính quyền trong phục vụ xã hội. Vì vậy, đổi mới trong quản trị công thường mang tính thể chế, có liên quan tới niềm tin công, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Đặc trưng của đổi mới sáng tạo trong quản trị hiện đại gồm: Lấy người dân làm trung tâm; tư duy thử nghiệm và học hỏi - cho phép sai để học; liên kết đa tác nhân - giữa chính quyền, doanh nghiệp, viện - trường và xã hội dân sự; định hướng dữ liệu - sử dụng dữ liệu để đánh giá chính sách và dự báo rủi ro; tích hợp chuyển đổi số như công cụ then chốt thúc đẩy hiệu quả quản trị.

Mối quan hệ tương hỗ và sự kết hợp giữa tư duy hệ thống và đổi mới sáng tạo

Tư duy hệ thống và đổi mới sáng tạo có mối quan hệ bổ sung chặt chẽ, cùng tạo nên nền tảng cho quản trị hiện đại. 

Tư duy hệ thống giúp nhà quản trị hiểu rõ cấu trúc, quy luật vận động khách quan và mối liên hệ giữa các thành phần trong hệ thống; trong khi đổi mới sáng tạo là công cụ biến nhận thức đó thành hành động thông qua việc ứng dụng công nghệ, mô hình và quy trình mới. 

Một chính quyền hiện đại cần vận hành trên nguyên tắc “học hỏi hệ thống - đổi mới liên tục”, trong đó dữ liệu được thu thập, phân tích và phản hồi để điều chỉnh chính sách kịp thời.

Sự kết hợp giữa hai tư duy này giúp chính quyền cấp tỉnh như Quảng Ninh xử lý hiệu quả các vấn đề phức hợp của phát triển bền vững, đô thị hóa hay chuyển đổi số; đồng thời thúc đẩy văn hóa sáng tạo, khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm và học hỏi từ thực tiễn. 

Tư duy hệ thống là khung chiến lược, còn đổi mới sáng tạo là động lực vận hành, cùng hình thành năng lực quản trị tri thức - chìa khóa để tỉnh Quảng Ninh duy trì tăng trưởng, cân bằng giữa kinh tế, xã hội và phát triển con người trong giai đoạn mới.

Tham luận này kiến nghị tích hợp tư duy hệ thống và đổi mới sáng tạo thông qua mô hình đô thị thông minh, bền vững, áp dụng thí điểm tại Quảng Ninh.

Cơ sở lý luận về phát triển đô thị thông minh, bền vững

Phát triển đô thị thông minh, bền vững là quá trình phát triển đô thị đáp ứng nhu cầu hiện tại, đặc biệt là sự phát triển của AI và các công nghệ mới, mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai (WCED). 

Theo UN-Habitat, đô thị thông minh, bền vững phải hội tụ bốn trụ cột chính: kinh tế - công nghệ - xã hội - môi trường, trong đó yếu tố quản trị đô thị đóng vai trò điều phối và bảo đảm sự cân bằng giữa các trụ cột.

Tại Việt Nam, định hướng phát triển đô thị thông minh, bền vững được xác lập trong Chiến lược phát triển đô thị quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Theo đó, đô thị Việt Nam phải phát triển “xanh, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu, có bản sắc và bản lĩnh văn hóa Việt Nam”. Bền vững không chỉ là bài toán về môi trường, mà còn là sự hài hòa giữa quy hoạch không gian, hạ tầng kỹ thuật, xã hội, giao thông và quản lý vận hành đô thị.

Một đô thị thông minh, bền vững phải bảo đảm các nguyên tắc cơ bản: 

1- Tối ưu hóa sử dụng đất đô thị thông qua quy hoạch hợp lý, hạn chế đô thị hóa tràn lan; 

2- Phát triển giao thông công cộng thông minh và hệ thống giao thông phi cơ giới, nhằm giảm ùn tắc và phát thải khí nhà kính; 

3- Bảo tồn tài nguyên và di sản đô thị, hướng tới đô thị xanh - sạch - đẹp; 

4- Thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng, bảo đảm tính bao trùm và công bằng xã hội; 

5- Ứng dụng công nghệ số, AI và chuyển đổi số trong quản lý và vận hành đô thị.

Quy hoạch đô thị hiện đại không chỉ dựa trên bản đồ địa hình và số liệu dân số như trước đây, mà đã chuyển sang mô hình quy hoạch dựa trên dữ liệu. 

Các học giả như Batty và Townsend cho rằng đô thị thông minh là không gian nơi dữ liệu trở thành “bộ não, hệ thần kinh” của quá trình quy hoạch, vận hành và phản hồi chính sách.

Các công cụ GIS, BIM, Digital Twin và AI được tích hợp trong quy hoạch đô thị nhằm mô phỏng và dự báo các kịch bản phát triển. Việt Nam đã khởi động chương trình “Đô thị thông minh Việt Nam” (2018 - 2030), trong đó khuyến khích việc ứng dụng công nghệ số trong quy hoạch, thiết kế và giám sát xây dựng đô thị.

Cơ sở lý luận của quy hoạch đô thị thời kỳ mới gắn với ba yếu tố chính: 

1- Tư duy hệ thống: xem đô thị như một hệ sinh thái phức hợp, trong đó các yếu tố kinh tế, công nghệ mới và AI, xã hội, giao thông và môi trường tương tác lẫn nhau; 

2- Quy hoạch tích hợp: bảo đảm sự đồng bộ giữa quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch giao thông và quy hoạch hạ tầng kỹ thuật; 

3- Quy hoạch linh hoạt và thích ứng: cho phép đô thị phản ứng nhanh với các tai biến, biến đổi khí hậu, khủng hoảng dân số và sự phát triển của công nghệ.

Qua những nghiên cứu khoa học và thực tiễn, có thể nhận thấy khoảng trống trong nghiên cứu và triển khai đô thị thông minh, bền vững nằm ở việc thiếu mô hình đánh giá sự bền vững của quy hoạch đô thị ở cấp vi mô (phường, xã, khu dân cư); ít công trình tích hợp phân tích một cách toàn diện và thông minh giữa giao thông - sử dụng đất - môi trường và dữ liệu dân cư trong một khung mô hình thống nhất; còn hạn chế trong việc thu thập, thống nhất dữ liệu và ứng dụng công nghệ số (AI, GIS, Big Data) để hỗ trợ ra quyết định quy hoạch và quản trị.

Bài viết này đề xuất tư duy và định hướng tới việc xây dựng cơ sở lý luận tích hợp giữa quy hoạch bền vững và đô thị thông minh, đồng thời đề xuất giải pháp cụ thể cho Việt Nam nói chung và Quảng Ninh nói riêng trong giai đoạn chuyển đổi số, góp phần hoàn thiện nền tảng lý luận và thực tiễn cho công tác quy hoạch đô thị hiện đại.

Thực trạng phát triển đô thị và công tác quy hoạch ở Việt Nam hiện nay

Trong hơn ba thập niên qua, kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới(1986), Việt Nam đã chứng kiến tốc độ đô thị hóa nhanh chóng chưa từng có. Tỷ lệ đô thị hóa của Việt Nam đến hết năm 2023 đạt khoảng 42,7%, tăng hơn gấp đôi so với năm 2000 (19,6%), với hơn 900 đô thị các loại, bao gồm 2 đô thị đặcbiệt (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh), 22 đô thị loại I, và hàng trăm đô thị loại II, III, IV, V tính đến tháng 9 năm 2023. 

Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm khu vực thành thị giai đoạn 2019 - 2024 là 3,06 %/năm, gấp 1,5 lần tỷ lệ tăng dân số bình quân năm khu vực thành thị của cả nước giai đoạn 2014 - 2019 (2,02%). Dự báo đến năm 2030, tỷ lệ đô thị hóa có thể đạt trên 50%, với khoảng 1.000 - 1.200 đô thị với khoảng 55-60 triệu người sinh sống trong đô thị.

Quá trình đô thị hóa này mang lại nhiều thành tựu to lớn: Góp phần thúc đẩy tăng trưởng GDP, khi khu vực đô thị đóng góp khoảng 70% GDP cả nước; hình thành hệ thống đô thị trung tâm vùng, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt tại các vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, miền Trung và Nam Bộ; phát triển hạ tầng kỹ thuật - xã hội đồng bộ hơn trước, đặc biệt ở các đô thị lớn, như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Hải Phòng.

Tuy nhiên, sự phát triển nhanh về lượng lại đi kèm nhiều thách thức về chất lượng đô thị, về quản lý, quy hoạch và bền vững môi trường. Công tác quy hoạch đô thị ở Việt Nam thời gian qua đã có bước chuyển mạnh mẽ về thể chế và phương pháp. 

Luật số 47/2024/QH15 của Quốc hội: Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn thay thế Luật Quy hoạch đô thị (2009), Luật số 62/2020/QH14 của Quốc hội: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng (2014) và gần đây là Luật Quy hoạch 2017 đã tạo nền tảng pháp lý tương đối hoàn chỉnh cho công tác quy hoạch - từ quy hoạch vùng, quy hoạch chung, quy hoạch phân khu đến quy hoạch chi tiết.

Về thành tựu đạt được:

Hệ thống văn bản pháp luật và công cụ quản lý ngày càng đồng bộ hơn. Việt Nam đang xây dựng Chiến lược phát triển đô thị quốc gia (2021 - 2030) và tầm nhìn 2050, Chương trình phát triển đô thị quốc gia, cùng các định hướng quy hoạch vùng liênkết, như Vùng Thủ đô Hà Nội, Vùng TP. Hồ Chí Minh, Vùng duyên hải miền Trung.

Tăng cường ứng dụng công nghệ trong quy hoạch. Nhiều địa phương đã sử dụng hệ thống GIS, bản đồ số, và công nghệ 3D trong quản lý không gian đô thị. Các thành phố như Đà Nẵng, Bình Dương (cũ) và Hà Nội bước đầu triển khai cơ sở dữ liệu đô thị số phục vụ cho công tác quy hoạch và quản lý đầu tư xây dựng. 

Chuyển dịch tư duy từ quy hoạch đơn ngành sang quy hoạch tích hợp, thay vì chỉ tập trung vào hạ tầng kỹ thuật, quy hoạch đô thị hiện nay đã bắt đầu quan tâm đến các yếu tố xã hội, môi trường và văn hóa. Mô hình “đô thị nén” và “đô thị xanh” được đưa vào nhiều đồ án quy hoạch mới, nhằm sử dụng đất hiệu quả và giảm áp lực hạ tầng.

Tại một số địa phương như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Bình Dương (cũ),… đã bước đầu tiến tới đô thị thông minh, ứng dụng AI trong quản lý giao thông và an ninh đô thị.

Về hạn chế: Dù đạt nhiều kết quả tích cực, công tác quy hoạch và phát triển đô thị ở Việt Nam vẫn tồn tại nhiều bất cập, có thể chia thành 4 nhóm chính: 

1- Quy hoạch chưa theo kịp thực tiễn phát triển. Nhiều đồ án quy hoạch còn mang tính hình thức, thiếu cơ sở khoa học và dự báo dài hạn. Tình trạng quy hoạch “treo” và điều chỉnh quy hoạch cục bộ diễn ra phổ biến, đặc biệt tại các đô thị lớn; 

2- Thiếu sự phối hợp liên ngành và liên vùng. Quy hoạch xây dựng, giao thông, đất đai, hạ tầng kỹ thuật và phát triển kinh tế - xã hội vẫn được thực hiện rời rạc, dẫn đến xung đột trong sử dụng không gian đô thị. Ví dụ, mở rộng khu dân cư nhưng thiếu hạ tầng giao thông và trường học đi kèm; hoặc phát triển khu công nghiệp mà không có quy hoạch nhà ở công nhân; 

3- Chất lượng đô thị chưa bền vững. Tình trạng ô nhiễm môi trường, úng ngập cục bộ, quá tải hạ tầng giao thông, thiếu không gian xanh đang diễn ra ở nhiều thành phố. Nghiên cứu của JICA (năm 2015) cho thấy khu nội thành Hà Nội có mật độ cây xanh chỉ 4,6 m²/người, thấp hơn nhiều so với khuyến nghị của WHO (9-10 m²/người); 

4- Công tác quản lý và giám sát thực thi quy hoạch còn yếu; thiếu cơ sở dữ liệu, cơ chế giám sát thực hiện quy hoạch chưa hiệu quả, thiếu minh bạch và chưa có cơ chế ràng buộc trách nhiệm cụ thể giữa cơ quan lập - thẩm định - phê duyệt - quản lý. Một số dự án đô thị còn “phát triển nóng”, vượt quá năng lực hạ tầng hiện có.

Về thực trạng phát triển hạ tầng đô thị và giao thông: Một trong những yếu tố cốt lõi của phát triển đô thị là hệ thống hạ tầng kỹ thuật và giao thông. Đây cũng là lĩnh vực có sự chênh lệch rõ rệt giữa các đô thị lớn và đô thị trung bình.

1- Hạ tầng giao thông đô thị còn nhiều hạn chế. Các tuyến đường chính tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh thường xuyên quá tải. Tỷ lệ đất dành cho giao thông Hà Nội mới đạt khoảng 12-13% diện tích đất xây dựng đô thị, trong khi tiêu chuẩn quốc tế và theo quy hoạch từ 20-26%, giao thông tĩnh chưa đạt 1% so với quy hoạch là phải đạt 3-4%.

2- Hạ tầng kỹ thuật thiếu đồng bộ. Hệ thống cấp thoát nước, chiếu sáng, thu gom rác thải, ngầm hóa hạ tầng kỹ thuật vẫn chưa đồng bộ. Một số thành phố ven biển, như Đà Nẵng, Nha Trang (cũ), Vũng Tàu (cũ) phải đối mặt với nguy cơ xói lở và ngập úng do biến đổi khí hậu.

3- Thiếu quỹ đất cho không gian công cộng và cây xanh. Nhiều khu đô thị mới chú trọng phát triển nhà ở thương mại, trong khi thiếu công viên, quảng trường, không gian sinh hoạt cộng đồng. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng sống và tính hấp dẫn của đô thị.

Về ứng dụng chuyển đổi số trong công tác quy hoạch đô thị: Trong giai đoạn gần đây, Việt Nam bắt đầu chuyển hướng mạnh mẽ sang quy hoạch đô thị gắn với chuyển đổi số. Các địa phương như Đà Nẵng, Bình Dương (cũ), TP. Hồ Chí Minh đã xây dựng hệ thống quản lý quy hoạch điện tử, cho phép tra cứu, cập nhật và minh bạch thông tin quy hoạch trực tuyến.

Bộ Xây dựng cũng đã triển khai Hệ thống thông tin quốc gia về quy hoạch đô thị và nông thôn, tích hợp dữ liệu không gian trên nền tảng GIS. Tuy nhiên, mức độ ứng dụng vẫn chưa đồng đều. Nhiều đô thị nhỏ chưa có đủ nguồn nhân lực, hạ tầng dữ liệu, hoặc quy trình số hóa bài bản. Bên cạnh đó, việc chia sẻ dữ liệu giữa các ngành (xây dựng, tài nguyên, giao thông, dân cư) còn hạn chế, làm giảm hiệu quả của chuyển đổi số trong quy hoạch.

Nhìn chung, quá trình phát triển đô thị ở Việt Nam đang ở giai đoạn chuyển mình rất quan trọng - từ mở rộng theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu và chất lượng. Công tác quy hoạch đã có bước tiến rõ rệt, nhưng so với yêu cầu của Nghị quyết số 57-NQ/TW và bối cảnh hiện nay, cần đổi mới mạnh mẽ về phương pháp, công cụ, và tư duy và công nghệ mới để quản lý, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu phát triển bền vững.

Định hướng và giải pháp phát triển đô thị thông minh, bền vững trong thời kỳ chuyển đổi số

Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số quốc gia theo Quyết định số 749/QĐ-TTg, ngày3-6-2020 của Thủ tướng phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, lĩnh vực quản trị và phát triển đô thị thông minh đang trở thành một trong những trụ cột trọng tâm. 

Sự phát triển của công nghệ số, AI, Big Data và Internet vạn vật (IoT) đã và đang làm thay đổi sâu sắc cách thức đô thị vận hành, từ quy hoạch, đầu tư hạ tầng đến quản lý dân cư và môi trường. 

Trong giai đoạn 2025 - 2030, mục tiêu không chỉ là “đô thị hóa nhanh”, mà phải hướng tới “đô thị thông minh, bền vững và có khả năng thích ứng”. Điều này đòi hỏi một mô hình quản trị dựa trên tư duy hệ thống, kết hợp giữa đổi mới sáng tạo, dữ liệu số và sự tham gia của người dân.

Tỉnh Quảng Ninh, với vai trò là cực tăng trưởng phía Đông Bắc, đang đứng trước cơ hội lớn để trở thành địa phương tiên phong trong mô hình phát triển đô thị bền vững - thông minh cấp tỉnh. Định hướng này phù hợp với tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XV nhiệm kỳ 2020 - 2025, trong đó nhấn mạnh: Phát triển nhanh, bền vững dựa chủ yếu vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Định hướng phát triển đô thị bền vững gắn với tư duy hệ thống

Tư duy hệ thống đòi hỏi nhìn nhận đô thị như một hệ sinh thái phức hợp, trong đó các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường và văn hóa có mối liên hệ mật thiết và tác động qua lại. Từ góc độ này, phát triển đô thị thông minh, bền vững ở Quảng Ninh cần dựa trên năm định hướng cốt lõi sau:

1- Phát triển đô thị theo mô hình “một hệ thống - đa trung tâm - liên kết vùng”. Xây dựng mạng lưới đô thị tỉnh Quảng Ninh có tính liên kết giữa Hạ Long - Cẩm Phả - Uông Bí - Quảng Yên - Móng Cái, hướng đến phân bổ hợp lý dân cư, công nghiệp và dịch vụ, giảm áp lực lên đô thị trung tâm.

2- Tích hợp các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội và môi trường trong cùng một khung quy hoạch, phát huy những thế mạnh của địa phương.

3- Xây dựng đô thị theo hướng “thông minh - xanh - linh hoạt - đáng sống”.

4- Thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong quy trình quy hoạch và ra quyết định.
Quản trị đô thị hiện đại dựa trên bằng chứng, sử dụng dữ liệu số.

5- Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và văn hóa đổi mới. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực tư duy hệ thống, am hiểu công nghệ và sẵn sàng đổi mới là điều kiện tiên quyết.

Giải pháp phát triển đô thị bền vững trong thời kỳ chuyển đổi số

Cần tập trung triển khai 6 nhóm giải pháp trọng tâm sau:

1- Đổi mới tư duy và phương thức quy hoạch đô thị.

Chuyển từ quy hoạch truyền thống sang quy hoạch tích hợp, thông minh và linh hoạt, trong đó kết hợp quy hoạch không gian, hạ tầng, giao thông, dân cư và công nghiệp trong cùng một hệ thống với ứng dụng công nghệ cao và AI. 

Áp dụng tư duy kịch bản trên cơ sở dữ liệu toàn diện và thống nhất để dự báo và điều chỉnh kế hoạch phát triển theo các biến động về dân số, khí hậu, công nghệ. 

Phát triển đô thị thông minh gắn với thúc đẩy phát triển kinh tế số tại địa phương. Tăng cường sự tham gia của người dân và doanh nghiệp trong quá trình lập và phản biện quy hoạch, qua các nền tảng số công khai và minh bạch.

2- Tăng cường ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý đô thị.

Xây dựng cơ sở dữ liệu đô thị thống nhất, kết nối thông tin giữa các sở, ngành (xây dựng, dân cư, năng lượng). 

Phát triển hệ thống giám sát đô thị thông minh, sử dụng AI, tích hợp dữ liệu thời gian thực về giao thông, môi trường, năng lượng, chiếu sáng, an ninh, nhằm hỗ trợ ra quyết định. 

Khuyến khích chính quyền điện tử và dịch vụ công trực tuyến toàn diện, hướng tới mô hình chính quyền số đô thị.

3- Phát triển hạ tầng xanh và hạ tầng thông minh.

Đầu tư xây dựng trung tâm dữ liệu lớn (đi đôi với an toàn thông tin) phục vụ công tác quản lý và hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế số tại địa phương. 

Ưu tiên đầu tư vào giao thông công cộng xanh (xe buýt điện, xe đạp chia sẻ, đường đi bộ an toàn). 

Phát triển hạ tầng năng lượng tái tạo (điện mặt trời áp mái, chiếu sáng thông minh, tòa nhà tiết kiệm năng lượng). 

Tăng tỷ lệ đất cây xanh và không gian công cộng; khôi phục các không gian mặt nước, hồ điều hòa để ứng phó ngập úng và biến đổi khí hậu.

4- Cải thiện cơ chế, chính sách và công cụ quản trị đô thị.

Hoàn thiện thể chế về phân cấp quản lý đô thị, trao quyền tự chủ cao hơn cho chính quyền cấp xã, phường trong quản lý đầu tư, hạ tầng và dịch vụ công. 

Xây dựng các cơ chế tài chính đô thị bền vững, như quỹ phát triển đô thị, trái phiếu xanh, mô hình PPP để huy động vốn xã hội hóa. 

Áp dụng các công cụ quản trị hiện đại, như quản lý dựa trên kết quả (RBM), đánh giá tác động chính sách (PIA), và quản lý rủi ro tích hợp (IRM). 

Tích hợp nguồn dữ liệu lớn để quản trị và thúc đẩy phát triển kinh tế số.

5- Phát triển văn hóa đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực số.

Tổ chức chương trình đào tạo, bồi dưỡng tư duy hệ thống và đổi mới sáng tạo cho cán bộ quản lý đô thị, cán bộ quy hoạch và lãnh đạo các sở ngành. 

Liên kết với các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ để hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực quy hoạch, hạ tầng, và dịch vụ đô thị và phát triển kinh tế số. 

Khuyến khích nguồn nhân lực trẻ tham gia đổi mới sáng tạo, quản trị đô thị thông minh, thông qua các nền tảng khởi nghiệp, hackathon và dự án cộng đồng.

6- Xây dựng mô hình thí điểm đô thị thông minh - bền vững tại tỉnh Quảng Ninh.

Lựa chọn các đô thị như Hạ Long, Cẩm Phả, Quảng Yên, Móng Cái làm điểm thí điểm phát triển đô thị thông minh, bền vững với các trụ cột: (i) chính quyền số; (ii) kinh tế số; (iii) xã hội số; (iv) môi trường thông minh.

Thiết lập Trung tâm điều hành đô thị thông minh cấp tỉnh, tích hợp dữ liệu về giao thông, an ninh, năng lượng, y tế, giáo dục, phục vụ giám sát và điều hành thời gian thực. 

Thúc đẩy hợp tác với các đối tác quốc tế (như JICA, KOICA, UNDP) để học hỏi mô hình quản trị đô thị tiên tiến, đặc biệt về quy hoạch linh hoạt và phát triển xanh.

Với những yêu cầu trên, tư duy hệ thống cần trở thành nền tảng trong quá trình ra quyết định chính sách của tỉnh Quảng Ninh. 

Thay vì tiếp cận theo từng lĩnh vực rời rạc, tỉnh cần: Xây dựng “Bản đồ hệ thống phát triển tỉnh Quảng Ninh”, thể hiện mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội - môi trường - con người - công nghệ. 

Áp dụng phương pháp phân tích hệ thống để đánh giá tác động của các chính sách, nhận diện “nút thắt” và “đòn bẩy hệ thống” nhằm tối ưu hiệu quả can thiệp. 

Lồng ghép tư duy hệ thống vào quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch ngành, giúp đảm bảo tính liên kết, đồng bộ và tầm nhìn, thích ứng với thay đổi.

Kết luận

Phát triển đô thị thông minh, bền vững trong kỷ nguyên chuyển đổi số không chỉ là bài toán kỹ thuật hay công nghệ, mà còn là bài toán về tư duy và năng lực quản trị. 

Tư duy hệ thống giúp nhận diện các mối quan hệ phức hợp và tác động qua lại giữa các yếu tố phát triển, trong khi đổi mới sáng tạo là công cụ để chuyển hóa nhận thức thành hành động cụ thể. 

Đối với Quảng Ninh, việc kết hợp hai yếu tố này sẽ tạo nên một mô hình quản trị cấp tỉnh hiện đại, thông minh, hiệu quả và hướng tới conngười, tiên phong, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số và đến năm 2030, Quảng Ninh trở thành tỉnh kiểu mẫu về mọi mặt, trung tâm phát triển của vùng Đông Bắc và cả nước”./.

GS. TSKH. Nguyễn Đình Đức